Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia và là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước theo quy định tại Điều 54 Hiến pháp năm 2013. Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước áp dụng các chính sách giao đất, cho thuê đất nhằm thu hút và khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện dự án. Song song với hoạt động phân bổ đất đai, cơ chế thu hồi đất được thiết lập như một công cụ pháp lý phục vụ công tác quản lý, điều phối, bảo đảm đất đai được sử dụng đúng quy hoạch, kế hoạch và hiệu quả. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật phát sinh nhiều dự án đầu tư có sử dụng đất chậm triển khai hoặc chậm tiến độ (dự án "treo"), gây lãng phí tài nguyên, thất thu ngân sách và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội.

Lý do tác giả Nguyễn Hồng Phát thực hiện khóa luận tốt nghiệp "Những vấn đề pháp lý về thu hồi đất đối với dự án chậm triển khai hoặc chậm tiến độ theo Luật Đất đai 2013" xuất phát từ 4 nhóm bất cập pháp lý thực tiễn:

  1. Bất cập trong quy định và áp dụng thời gian gia hạn cho chủ đầu tư giữa pháp luật đất đai (cho phép gia hạn 24 tháng) và pháp luật đầu tư (quy định về giãn tiến độ/điều chỉnh dự án đầu tư).
  2. Quy định về các trường hợp bất khả kháng ảnh hưởng đến tiến độ dự án tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP còn thiếu rõ ràng về thẩm quyền, tiêu chí xác định "trường hợp khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định", cũng như việc loại trừ thời gian bất khả kháng khỏi thời gian gia hạn sử dụng đất.
  3. Trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh với các sở, ban, ngành trong việc thanh tra, kiểm tra, xử lý và thu hồi đất dự án vi phạm chưa được quy định cụ thể, thiếu chế tài ràng buộc.
  4. Pháp luật chưa có quy định bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan khi dự án bị thu hồi đất (nhà đầu tư, tổ chức tín dụng nhận thế chấp quyền sử dụng đất, khách hàng mua bất động sản hình thành trong tương lai, đối tác góp vốn).

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về thu hồi đất đối với dự án chậm triển khai, chậm tiến độ; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng; từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định này.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận gồm:

  1. Những vấn đề lý luận cơ bản về thu hồi đất và dự án đầu tư sử dụng đất chậm triển khai hoặc chậm tiến độ.
  2. Hệ thống quy định pháp luật hiện hành về thu hồi đất do chậm tiến độ, trọng tâm là Luật Đất đai 2013 và các văn bản liên quan.
  3. Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật và các giải pháp hoàn thiện.

Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận giới hạn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về thu hồi đất do vi phạm tiến độ theo điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013, các nghị định hướng dẫn thi hành, sự tương thích với Luật Đầu tư 2020, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Nhà ở 2014, Luật Xây dựng; cùng các số liệu, thực tiễn thi hành tại một số địa phương (TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Khánh Hòa, Quảng Bình, Bến Tre) đến thời điểm năm 2022.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp các quy định pháp lý chuyên ngành và hệ thống khái niệm chuẩn mực:

  • Khung pháp lý nền tảng: Hiến pháp năm 1980, 1992, 2013 (chế độ sở hữu toàn dân về đất đai); Quyết định số 201-CP ngày 01/07/1980 của Hội đồng Chính phủ; Luật Đất đai qua các thời kỳ (1987, 1993, 2003, 2013); Luật Đầu tư (2005, 2014, 2020); Bộ luật Dân sự 2015; Luật Nhà ở 2014; Luật Xây dựng (VBHN 02/VBHN-VPQH năm 2020); Luật Thương mại 2005; Luật Kinh doanh bất động sản 2014; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Nghị định số 01/2017/NĐ-CP, Nghị định số 02/2022/NĐ-CP và Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số nghị định chi tiết thi hành Luật Đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Khái niệm then chốt: Khái niệm thu hồi đất (khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai 2013), khái niệm dự án đầu tư có sử dụng đất (tổng hợp từ Luật Đầu tư 2020, Luật Nhà ở 2014, Luật Xây dựng 2020), khái niệm sự kiện bất khả kháng (Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 15 Nghị định 43/2014/NĐ-CP).

Phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp liệt kê, trích dẫn: Sử dụng để hệ thống hóa các định nghĩa, quy phạm pháp luật và quan điểm của các học giả, nhà nghiên cứu.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh các quy định về thu hồi đất trong Luật Đất đai 2013 với Luật Đất đai các thời kỳ trước; so sánh giữa Luật Đất đai và Luật Đầu tư nhằm chỉ ra điểm tương đồng, xung đột và hạn chế.
  • Phương pháp phân tích: Mổ xẻ nội dung các điều luật, phân tích cấu thành vi phạm pháp luật đất đai, đánh giá các tác động đa chiều của dự án chậm tiến độ đến kinh tế - xã hội.
  • Phương pháp quy nạp và tổng hợp: Rút ra các kết luận lý luận, đánh giá thực trạng áp dụng luật từ các báo cáo địa phương và đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2016, 2018), các bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật), báo cáo giám sát của HĐND TP. Hà Nội, số liệu thống kê từ Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh (HoREA), cùng các báo cáo, quyết định hành chính từ UBND các tỉnh Khánh Hòa, Quảng Bình, Bến Tre.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thu hồi đất và thu hồi đất đối với dự án chậm triển khai hoặc chậm tiến độ

Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý luận về chế định thu hồi đất và nhận diện dự án đầu tư có sử dụng đất chậm triển khai, chậm tiến độ:

  • Khái niệm và đặc điểm của thu hồi đất: Tác giả khẳng định thu hồi đất theo khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai 2013 là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật đất đai. Chế định này mang 4 đặc điểm: (1) Thể hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân của Nhà nước; (2) Mang tính quyền lực nhà nước và là căn cứ chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai; (3) Chỉ phát sinh theo yêu cầu hoặc hành vi, hoàn cảnh cụ thể do luật định; (4) Bắt buộc thực hiện thông qua quyết định hành chính cá biệt.
  • Phân loại các trường hợp thu hồi đất: Luật Đất đai 2013 phân chia thành 4 nhóm căn cứ thu hồi: vì mục đích quốc phòng, an ninh (Điều 61); để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 62); do chấm dứt việc sử dụng đất, tự nguyện trả lại đất, đe dọa tính mạng con người (Điều 65); và do vi phạm pháp luật về đất đai (Điều 64).
  • Nhận diện dự án chậm tiến độ: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013, dự án chậm triển khai là dự án không đưa đất vào sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; dự án chậm tiến độ là dự án có tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa.
  • Đặc điểm dự án đầu tư có sử dụng đất: Gồm quy mô sử dụng đất lớn; phục vụ mục đích tìm kiếm lợi nhuận; việc tiếp cận đất đai gây tác động trực tiếp đến quyền lợi của các chủ thể sử dụng đất hiện hữu; trình tự, thủ tục chuẩn bị và triển khai phức tạp (chịu sự điều chỉnh đồng thời của pháp luật về đầu tư, quy hoạch, đất đai, xây dựng, nhà ở, đấu thầu).
  • Hệ quả tiêu cực của dự án chậm tiến độ: Tác giả phân tích 4 tác động nghiêm trọng: lãng phí nguồn lực tài chính của Nhà nước và doanh nghiệp; làm khan hiếm quỹ đất và đẩy giá đất khu vực tăng cao; lãng phí tài nguyên đất và gây bất ổn đời sống cho người dân bị thu hồi đất trước đó; gây ô nhiễm môi trường và suy thoái hệ sinh thái do công trình thi công dở dang.
  • Lịch sử lập pháp: Khái quát quá trình phát triển từ Quyết định 201-CP (1980), Hiến pháp 1980, Luật Đất đai 1987, 1993, 2003 đến Luật Đất đai 2013.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất đối với dự án chậm triển khai hoặc chậm tiến độ và một số kiến nghị hoàn thiện

Chương 2 đi sâu phân tích 4 nhóm nội dung quy định thực định, đối chiếu với thực tiễn thi hành và đưa ra các đề xuất hoàn thiện:

  • Quy định về thời gian gia hạn sử dụng đất và hiện tượng lách luật: Điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 cho phép gia hạn tiến độ 24 tháng nếu chủ đầu tư nộp khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ. Tác giả chỉ ra lỗ hổng: theo khoản 14 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP, khi dự án bị chấm dứt hoạt động, chủ đầu tư được 24 tháng để xử lý tài sản gắn liền với đất. Nhiều chủ đầu tư lợi dụng quy định này bằng cách thành lập công ty con (nắm 100% vốn) rồi chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc bán tài sản sang pháp nhân mới nhằm tiếp tục chiếm giữ đất, làm vô hiệu hóa mục tiêu thu hồi đất của Nhà nước.
  • Quy định về các trường hợp bất khả kháng: Điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 bổ sung loại trừ "trừ trường hợp do bất khả kháng". Điều 15 Nghị định 43/2014/NĐ-CP liệt kê 4 nhóm: thiên tai, thảm họa môi trường; hỏa hoạn, dịch bệnh; chiến tranh; và các trường hợp khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Khóa luận phân tích bất cập: chưa có quy trình, thời hạn để UBND cấp tỉnh đề xuất và Thủ tướng Chính phủ ra quyết định, dễ dẫn đến tình trạng dự án bị thu hồi oan trước khi có quyết định công nhận bất khả kháng. Tác giả đánh giá cao điểm mới trong Dự thảo sửa đổi Nghị định của Bộ Tài nguyên và Môi trường khi quy định thời gian bị ảnh hưởng trực tiếp bởi bất khả kháng không tính vào thời hạn gia hạn 24 tháng và không phải nộp tiền sử dụng đất/tiền thuê đất.
  • Trách nhiệm của cơ quan nhà nước và thực tiễn phối hợp: Trách nhiệm rà soát, công bố công khai dự án vi phạm thuộc về UBND cấp tỉnh (Điều 15 Nghị định 43/2014/NĐ-CP). Tác giả phân tích mô hình ban hành Quy chế phối hợp liên ngành tại Quyết định số 19/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bến Tre (phân định rõ nhiệm vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các khu công nghiệp, UBND cấp huyện). Đồng thời, tác giả phản ánh thực trạng xử lý dự án chậm tiến độ tại Hà Nội, Quảng Bình, Cam Ranh (Khánh Hòa), nơi việc thu hồi gặp nhiều lực cản do thiếu dữ liệu pháp lý, thời gian thanh tra kéo dài, thiếu chế tài đối với chủ đầu tư chây ỳ và thiếu cơ chế truy cứu trách nhiệm của cán bộ, cơ quan có thẩm quyền khi để xảy ra sai phạm.
  • Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan: Phân tích sự thiếu vắng cơ chế xử lý giá trị còn lại đã đầu tư vào đất của nhà đầu tư bị thu hồi; quyền xử lý tài sản bảo đảm của các ngân hàng thương mại nhận thế chấp quyền sử dụng đất; quyền lợi của người mua nhà hình thành trong tương lai và đối tác hợp tác đầu tư khi Nhà nước thu hồi đất dự án.

Kết quả và đóng góp

Số liệu thực tiễn được trích xuất từ khóa luận

Khóa luận tổng hợp các dữ liệu thực tế tại nhiều địa phương nhằm minh chứng cho tính nghiêm trọng của tình trạng chậm tiến độ và sự phức tạp trong công tác thu hồi đất:

Địa phương Quy mô / Số lượng dự án chậm tiến độ Số liệu thiệt hại / Tình trạng xử lý theo văn bản
TP. Hồ Chí Minh 126 dự án không thể triển khai (trong 5 năm tính đến 2020) - Tổng mức đầu tư ước tính: 126.000 tỉ đồng.
- Thất thu tiền sử dụng đất: ~10.000 tỉ đồng.
- Thất thu thuế VAT (10%): ~12.600 tỉ đồng.
- Thất thu thuế TNDN (20%): ~5.000 tỉ đồng.
- Tiền lãi vay doanh nghiệp phải trả: ~40.000 tỉ đồng.
- Dự án Phước Kiển (Nhà Bè) của Quốc Cường Gia Lai: rộng ~90 ha, đầu tư hạ tầng 63.000 tỉ đồng, ký quỹ 6.300 tỉ đồng bị đình trệ.
TP. Hà Nội HĐND Thành phố kiến nghị thanh tra 379 dự án vốn ngoài ngân sách - Đã ra quyết định chấm dứt 48 dự án vi phạm (đã chấm dứt xong 33 dự án).
- Thu hồi thực địa 20/38 dự án đã có quyết định.
- Đưa ra khỏi danh sách vi phạm 81/379 dự án (tỷ lệ 22%).
- Xác định nghĩa vụ tài chính bổ sung cho 23/26 dự án.
Tỉnh Quảng Bình Giai đoạn 2016–2019 rà soát thu hồi 17 dự án - 12 dự án vị trí sinh lời cao đã thuê đất nhưng chậm tiến độ.
- 39 dự án chậm triển khai so với chủ trương đầu tư (33 dự án cấp trước 2019).
- 11/37 dự án nhà ở thương mại/khu đô thị chậm tiến độ xây dựng hạ tầng.
- 6 dự án tại khu kinh tế, khu công nghiệp chậm tiến độ.
Cam Ranh (Khánh Hòa) 26 dự án chậm tiến độ (tính đến tháng 11/2020) - 5 dự án hoàn thành một phần và khai thác.
- 10 dự án đang thi công xây dựng.
- 3 dự án đã giải phóng mặt bằng nhưng chưa cấp phép xây dựng.
- 8 dự án chưa hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng.

Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện do tác giả đề xuất

  1. Hoàn thiện quy định về trường hợp bất khả kháng: Cụ thể hóa định nghĩa các trường hợp bất khả kháng khác ngoài các sự kiện thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, chiến tranh; xác định thẩm quyền đề xuất của UBND cấp tỉnh lên Thủ tướng Chính phủ; quy định rõ ràng thời hạn xem xét, phê duyệt; luật hóa nguyên tắc thời gian ảnh hưởng bởi bất khả kháng không tính vào thời hạn gia hạn 24 tháng và miễn nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cho giai đoạn này.
  2. Ngăn chặn chuyển nhượng dự án hình thức nhằm chiếm dụng đất: Thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ thông qua Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư; thẩm định năng lực tài chính và điều kiện thực tế của nhà đầu tư mới khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo thời hạn xử lý tài sản 24 tháng của Nghị định 01/2017/NĐ-CP.
  3. Minh bạch trình tự, trách nhiệm quản lý nhà nước: Chuẩn hóa quy trình thanh tra, lập biên bản vi phạm hành chính làm căn cứ thu hồi đất thống nhất trên cả nước; quy định rõ thời hạn thực hiện của từng cơ quan chuyên môn; ban hành chế tài xử phạt đối với chủ đầu tư chây ỳ không báo cáo và xử lý trách nhiệm cán bộ, cơ quan chậm trễ trong giám sát đầu tư.
  4. Bổ sung cơ chế bảo vệ quyền lợi các bên liên quan: Xây dựng quy chế định giá và hoàn trả giá trị tài sản đã đầu tư hợp pháp còn lại trên đất; quy định rõ thứ tự ưu tiên thanh toán nghĩa vụ đối với ngân hàng nhận thế chấp và cơ chế bồi hoàn cho người mua nhà, đối tác hợp tác đầu tư khi dự án bị chấm dứt, thu hồi đất.

Đóng góp so với các công trình nghiên cứu trước

So với Luận văn của Trần Thị Thu Ngân (2004) chỉ nghiên cứu tổng quát về vi phạm pháp luật đất đai, Khóa luận của Nguyễn Thị Tài (2018) chỉ tập trung vào Điều 62 Luật Đất đai 2013, hay Giáo trình Luật Đất đai (2018) chỉ dừng lại ở việc liệt kê điều luật, khóa luận của Nguyễn Hồng Phát đã phân tích chuyên sâu vào điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013. Đồng thời, so với bài viết của Ngô Gia Hoàng và Trần Trọng Hiếu (2020) được công bố trước khi Luật Đầu tư 2020 có hiệu lực, khóa luận đã cập nhật sự tương thích giữa Luật Đất đai 2013 với Luật Đầu tư 2020, Nghị định 02/2022/NĐ-CP và Dự thảo Nghị định sửa đổi của Bộ Tài nguyên và Môi trường.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trọng tâm ở góc độ lý luận pháp luật và thực trạng áp dụng quy định thu hồi đất theo điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013; chưa đi sâu nghiên cứu toàn diện các khía cạnh tài chính đất đai phức tạp, định giá tài sản còn lại trên đất hoặc các tranh chấp dân sự chuyên sâu phát sinh giữa chủ đầu tư và khách hàng thứ cấp.
  • Hướng mở nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá sự thay đổi và tính đồng bộ của các quy định thu hồi đất do vi phạm tiến độ trong các dự thảo Luật Đất đai sửa đổi tiếp theo, sự liên thông giữa pháp luật đất đai với Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và các quy chế cưỡng chế thu hồi đất trên thực địa.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho sinh viên, học viên ngành Luật (chuyên ngành Luật Thương mại, Luật Dân sự, Luật Kinh tế), giảng viên giảng dạy môn Luật Đất đai và Luật Đầu tư.
  • Phần nội dung giá trị: Phân tích về sự chồng chéo giữa gia hạn sử dụng đất và giãn tiến độ đầu tư; cơ chế xử lý tài sản trong thời hạn 24 tháng theo Nghị định 01/2017/NĐ-CP; mô hình quy chế phối hợp thu hồi đất của UBND tỉnh Bến Tre (Quyết định 19/2019/QĐ-UBND); cùng bảng tổng hợp số liệu thực tiễn tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Bình và Khánh Hòa.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013, thế nào là dự án chậm triển khai và dự án chậm tiến độ?
Dự án chậm triển khai là dự án mà chủ đầu tư không đưa đất vào sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa. Dự án chậm tiến độ là dự án có tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất.

2. Khi dự án bị chậm tiến độ, chủ đầu tư được hưởng quyền gia hạn sử dụng đất như thế nào?
Chủ đầu tư được Nhà nước cho phép gia hạn tiến độ sử dụng đất 24 tháng nhưng phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian gia hạn. Hết thời gian 24 tháng gia hạn mà vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất (trừ trường hợp bất khả kháng).

3. Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định những trường hợp bất khả kháng nào làm ảnh hưởng đến tiến độ dự án?
Điều 15 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định 4 trường hợp bất khả kháng gồm: (1) Do ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai, thảm họa môi trường; (2) Do ảnh hưởng trực tiếp của hỏa hoạn, dịch bệnh; (3) Do ảnh hưởng trực tiếp của chiến tranh; (4) Các trường hợp bất khả kháng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

4. Chủ đầu tư thường dùng kẽ hở pháp lý nào trong Nghị định 01/2017/NĐ-CP để lách quy định thu hồi đất?
Theo khoản 14 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP, khi dự án bị chấm dứt hoạt động, chủ đầu tư có 24 tháng để xử lý tài sản trên đất. Nhiều nhà đầu tư đã thành lập doanh nghiệp con (nắm 100% vốn) rồi chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản cho doanh nghiệp này, thực chất chỉ thay đổi pháp nhân đại diện nhưng vẫn tiếp tục chiếm dụng, "treo" dự án mà không đưa đất vào sử dụng đúng tiến độ.

5. Theo số liệu của HoREA nêu trong khóa luận, thiệt hại ước tính từ 126 dự án bị ách tắc tại TP. Hồ Chí Minh là bao nhiêu?
Với 126 dự án không thể triển khai (ước tính bình quân 1.000 tỉ đồng/dự án), tổng mức đầu tư bị ứ đọng là 126.000 tỉ đồng; Nhà nước thất thu khoảng 10.000 tỉ đồng tiền sử dụng đất, 12.600 tỉ đồng tiền thuế VAT, 5.000 tỉ đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp; doanh nghiệp chịu gánh nặng lãi vay ngân hàng lên đến khoảng 40.000 tỉ đồng.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Hồng Phát đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý về thu hồi đất đối với dự án chậm triển khai, chậm tiến độ theo Luật Đất đai 2013. Thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật cùng số liệu thực tiễn tại nhiều địa phương, công trình đã chỉ rõ những lỗ hổng về thời hạn gia hạn, cơ chế bất khả kháng, trách nhiệm cơ quan nhà nước và việc bảo vệ quyền lợi các bên liên quan. Các kiến nghị được đề xuất mang tính cụ thể, góp phần hoàn thiện thể chế pháp luật đất đai và nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai quốc gia.