Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA TRƢỞNG THÔN TRONG THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC Ở CƠ SỞ 1. Sự ra đời, phát triển của thôn, ngƣời đứng đầu thôn ở nƣớc ta qua các thời kỳ lịch sử Vào thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên (cách đây khoảng 4000 năm), trên đất nước ta đã diễn ra quá trình tan rã của công xã thị tộc và hình thành nên công xã nông thôn - đó chính là xuất phát điểm của quá trình hình thành làng (thôn) Việt. Mỗi công xã nông thôn bao gồm một số gia đình sống quây quần trong một khu vực địa lý nhất định và bên cạnh quan hệ địa lý - láng giềng, quan hệ huyết thống vẫn được bảo tồn và củng cố tạo thành kết cấu làng - họ rất đặc trưng ở Việt Nam. Người đứng đầu công xã nông thôn là già làng, trưởng bản - những người đàn ông cao tuổi và có uy tín với nhân dân trong công xã được hình thành tự phát do mọi người tự suy tôn.
Các công việc chung trong công xã đều thực hiện theo ý của già làng, trưởng bản và họ hoạt động như một vị thủ lĩnh, trung thành tuyệt đối với lợi ích chung của cộng đồng. Công xã nông thôn Việt Nam là một loại hình của công xã phương Đông, trong đó nông nghiệp gắn liền với thủ công nghiệp, làng xóm gắn liền với ruộng đất, nên tự nó mang tính ổn định rất cao. Tính ổn định cao này đã hóa thân thành tinh thần công xã, thành truyền thống xóm làng nên nó trở thành nguồn sức mạnh diệu kỳ của người Việt Nam trong cuộc đọ sức với các mưu đồ nô dịch và đồng hóa của giặc ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Đến thời kỳ Văn Lang, nhà nước được chia thành các Bộ lạc, đứng đầu là các Lạc tướng.
Mỗi bộ lạc gồm nhiều công xã với người đứng đầu là các bồ chính (giống như các già làng, trưởng bản ngày nay)- người đại diện cho công xã nhiều hơn là nhà nước. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể nói, thôn ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở công xã nông thôn vào cuối thời kỳ Hùng Vương. Thời kỳ Bắc thuộc Nhà nước phong kiến Trung Hoa đã chính thức biến nước ta trở thành thuộc địa của chúng từ sau thất bại của An Dương Vương vào năm 179 trước công nguyên. Mặc dù tìm mọi cách vươn xuống tận cơ sở để nắm lấy và sử dụng làng Việt truyền thống như một công cụ phục vụ cho mưu đồ thống trị và đồng hóa dân tộc ta nhưng chúng đã không thành công.
Tuy từ đầu công nguyên, chế độ lạc tướng đã bị xóa bỏ và chính quyền đô hộ phương Bắc đã nắm giữ được cấp huyện, nhưng vẫn không thể khống chế nổi cơ sở hạ tầng của xã hội Việt Nam là các công xã (thôn ngày nay). Có thể nói lúc bấy giờ, người Việt đã mất nước nhưng trong thực tế chưa thật sự bị mất công xã. Trong suốt thời kỳ này, người Việt đã không ngừng bảo tồn và củng cố, biến công xã của mình thành những pháo đài chống Bắc thuộc, chống đồng hóa, dựa vào công xã và xuất phát từ đó mà đấu tranh giành lại đất nước. Có thể thấy, công xã nông thôn Việt Nam với kết cấu bền chặt không những không bị giải thể mà trái lại có mặt còn được hoàn thiện và phát triển trong nghìn năm chống Bắc thuộc.
Đó là việc xóa bỏ bộ lạc, giữ lại cơ cấu thôn, tăng cường sự cố kết dân tộc, thích ứng với cơ cấu quận, huyện là một tổ chức có tính chất hành chính - địa vực… Như vậy, công xã nông thôn của người Việt vẫn giữ được tính tự trị của mình. Đến thời kỳ này, người đứng đầu các công xã vẫn là các già làng, trưởng bản và nhiều trong số họ đã trở thành thủ lĩnh của các phong trào đấu tranh giành độc lập, do họ có nhiều mâu thuẫn với chính quyền đô hộ ngoại bang và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân. Có thể nói, trong giai đoạn bấy giờ, công xã giữ vai trò quyết định trong việc bảo tồn văn hóa, dân tộc Việt Nam. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX Đến khi dân tộc ta giành quyền tự chủ vào đầu thế kỷ X, vai trò của các công xã lại càng được coi trọng và củng cố.
Khúc Thừa Dụ đã xác nhận 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lại vai trò và truyền thống công xã và thi hành một phương thức bóc lột phù hợp với trình độ kinh tế - xã hội nước ta lúc đó. Một mặt, chính quyền họ Khúc bước đầu xác lập quyền sở hữu trên danh nghĩa của Nhà nước đối với ruộng đất công xã, mặt khác tích cực thi hành chính sách cải cách hành chính, trong đó có việc biến công xã thành đơn vị hành chính cấp cơ sở của Nhà nước, gọi là "xã". Khái niệm "làng xã" như một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đơn vị hành chính cấp cơ sở như ta hằng quan niệm xưa nay được hình thành trong thời điểm lịch sử này. Cũng trong buổi đầu của thời kỳ độc lập, khi cấp xã được nhà nước chính thống hóa trở thành đơn vị hành chính cấp cơ sở ở nông thôn thì cấp thôn cũng dường như đồng thời xuất hiện, tuy rằng thôn ở đây phải được hiểu là đơn vị hành chính cấp cơ sở tương đương với xã.
Lúc bấy giờ, xuất hiện thêm một thiết chế tổ chức mới do Nhà nước phong kiến áp đặt là chánh lệnh trưởng và tá lệnh trưởng cầm đầu các xã (tương đương cấp thôn) nhằm đảm bảo các nguồn thu thuế, phu và lính. Qua các triều phong kiến thời Ngô, Đinh, Tiền Lê vẫn duy trì cấp xã giống như thời họ Khúc. Mối quan hệ giữa nhà nước và công xã nông thôn là mối quan hệ tương đối dân chủ, người nông dân vừa có nghĩa vụ với chính công xã mình, vừa có nghĩa vụ với Nhà nước thông qua công xã. Mãi đến thời Lý, vẫn theo sử cũ, tên thôn mới xuất hiện với tư cách là một đơn vị tụ cư dưới ấp (mà ấp ở đây là hương ấp).
Như thế có nghĩa là thôn cũng là làng hay chí ít cũng là đơn vị tụ cư tương đương với làng. Qua các triều Trần - Hồ - Lê, thôn không bị giải thể, song dần dần phụ thuộc và trở thành đơn vị kinh tế - xã hội cơ sở của Nhà nước phong kiến, vừa cung cấp lương thực, thực phẩm, lao dịch, binh dịch cho Nhà nước vừa cung cấp đất đai để Nhà nước ban cho những viên chức của mình. Giai đoạn này, Nhà nước ban hành nhiều chính sách để kiểm soát các hoạt động của cư dân như: lập sổ đinh, sổ hộ khẩu, đặt ra các chức quan trong ngạch nhà nước để nắm thôn. Các viên xã quan (gồm đại tư xã và tiểu tư xã) dưới thời Lý - Trần 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có trách nhiệm điều tra nắm bắt quân số của thôn rồi báo cáo lên cấp trên.
Còn dưới dưới thời nhà Hồ có các chức Lý trưởng, Giáp thủ. Triều đình phong kiến cho phép các thôn có quyền tự bầu chọn các chức quan này, họ đều phải là dân "chính cư", tức là có ít nhất ba đời sinh sống tại thôn đó. Sau khi chiến thắng quân xâm lược Minh, đến tháng 11 năm 1428 Lê Lợi tiến hành tổ chức lại làng xã, tùy theo số đinh mà phân thành ba loại xã cơ bản là lớn, trung bình và nhỏ. Theo cách phân loại này thì những xã loại vừa và nhỏ trên thực tế chỉ là thôn, trong đó thôn cũng được chia ra thành hai loại là thôn phụ thuộc xã và thôn độc lập.
Các xã quan trên nguyên tắc vẫn là các viên chức của Nhà nước được cử ra để quản lý làng, xã, nhưng thực tế vào đầu thời Lê sơ, họ đã là người quản lý trực tiếp từng làng, xã thậm chí là từng thôn, xóm nhỏ. Với cách tổ chức như vậy, việc quản lý xã, thôn được quy định cụ thể hơn trên cơ sở quản lý dân đinh chứ không phải là quản lý hộ như dưới thời Minh thuộc. Đến năm 1466 Lê Thánh Tông tiến hành cải cách lại bộ máy nhà nước, trong đó có việc đổi chức xã quan thành xã trưởng và quy định tư cách, đạo đức, năng lực của xã trưởng cũng như việc bầu xã trưởng rất chặt chẽ. Vào giữa năm 1490, Lê Thánh Tông lại ban hành thể lệ tách xã cũ, lập xã mới, lúc bấy giờ, trong xã hội tồn tại phổ biến loại hình một xã có nhiều thôn phụ thuộc và bên cạnh chức danh xã trưởng cũng đã thấy xuất hiện chức danh thôn trưởng - người chịu trách nhiệm về vấn đề trị an, tổ chức thu thuế, đắp dựng mốc giới ruộng đất công tư và là người làm chứng cho chúc thư, văn khế trong thôn.
Điều luật 260 trong Hồng Đức thiện chính thư đã khẳng định: "nếu làng xã nào có những tục khác lạ thì được phép lập khoán ước nhưng phải nhờ viên chức nho giả là người đứng tuổi, có đức hạnh, ngay thẳng giúp cho việc soạn thảo và phải trình lên quan chức các nha môn xem xét rõ các điều để phê chuẩn hay bác bỏ". Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có điều luật cho phép các làng xã được lập hương ước riêng. Điều 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luật trên được ban hành là cơ sở xác nhận sự ra đời của loại hình hương ước với tư cách là một bộ luật thành văn của làng, xã. Đến thế kỷ XVII, XVIII (Vua Lê, Chúa Trịnh ở đàng ngoài và Chúa Nguyễn ở Đàng trong), khi mà nhà nước phong kiến trung ương tập quyền suy yếu, mô hình quản lý tập trung thống nhất không còn hiệu quả, ở nhiều địa phương, xu hướng thôn trưởng tự ý đặt ra các luật rồi thông qua đó mà lũng đoạn làng xã, gây bè kéo cánh, tách lập thôn riêng, bất chấp pháp luật của nhà nước ngày một nhiều.
Tình hình đó càng trở nên nghiêm trọng vào thời kỳ suy yếu của chế độ phong kiến khi Nhà nước hoàn toàn bất lực trong việc quản lý các xã trưởng, bỏ mặc cho bọn cường hào hoành hành, gây ra muôn vàn tệ nạn ở thôn. Dưới thời Cảnh Trị, vua Lê Huyền Tông phải định lại việc bầu xã trưởng nhằm kiểm tra chặt chẽ hơn người lãnh đạo làng, xã: "chọn các con em nhà lương thiện là Xã trưởng để dạy bảo xã dân hữu biết lễ nghĩa".