CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003 - 2013 1. Khái quát về các tổ chức phi chính phủ trên thế giới và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam 1. Khái quát về các tổ chức phi chính phủ trên thế giới * Khái niệm Tên gọi tổ chức phi chính phủ (tiếng Anh: Non-Govermental Organization – NGO; tiếng Pháp: Organisation Non Gouvernementale – ONG) được sử dụng lần đầu tiên từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai với sự ra đời của Liên hợp quốc. Tại Điều 71, chương 10 Hiến chương của Liên hợp quốc có đề cập đến vai trò tư vấn của các TCPCP đối với Hội đồng kinh tế và xã hội (ECOSOC).
ECOSOC đưa ra định nghĩa đầu tiên về tổ chức PCP quốc tế tại bản chính sách số 288 (X), tháng 2/1950: “bất cứ tổ chức quốc tế nào không do các thỏa thuận liên chính phủ lập nên sẽ được coi là một tổ chức phi chính phủ, kể cả các tổ chức chịu nhận những người được các nhà cầm quyền chỉ định làm thành viên, miễn là với tư cách đó, họ không can thiệp vào việc tự do bày tỏ quan điểm của tổ chức đó”. Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm về loại hình tổ chức PCP như sau: “tổ chức PCP là thuật ngữ dùng để chỉ một tổ chức, hiệp hội, quỹ văn hoá xã hội, uỷ hội từ thiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân mà theo pháp luật không thuộc khu vực nhà nước và không hoạt động vì lợi nhuận. Loại hình tổ chức này không bao gồm các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận hay nhà thờ” [8, tr. 18 z Năm 1993, Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đưa ra khái niệm cụ thể hơn: “Các tổ chức PCP là những tổ chức tư nhân, tự nguyện, không vì lợi nhuận và được hỗ trợ ít ra là một phần bởi sự đóng góp tự nguyện của công chúng” [43].
Như vậy theo các khái niệm trên, tổ chức PCP là tên gọi chung của một loại hình tổ chức hoạt động song song và bổ trợ cho các chương trình kinh tế - xã hội của nhà nước do nhân dân lập nên trên cơ sở tiền của, công sức của nhân dân. Loại hình tổ chức này bao gồm nhiều hình thức tổ chức khác nhau như Hội, Đoàn, Hiệp hội, Quỹ, Câu lạc bộ, Viện, Trung tâm. hoặc có thể chỉ do một số cá nhân, một nhóm người,… đứng ra thành lập. Một tổ chức PCP có thể hoạt động như là một tổ chức tài trợ hay như là một tổ chức triển khai viện trợ.
Hoạt động của các tổ chức PCP chủ yếu thông qua viện trợ được thể hiện dưới ba hình thức chính: viện trợ thông qua các chương trình/ dự án (viện trợ để thực hiện các chương trình/ dự án); viện trợ phi dự án (viện trợ bằng tiền hoặc hiện vật) và viện trợ khẩn cấp trong trường hợp có thiên tai hoặc tai họa khác. Khác với nguồn viện trợ chính thức (ODA) hay nguồn đầu tư trực tiếp (FDI), viện trợ PCP là dạng viện trợ không hoàn lại, mang tính nhân đạo và phát triển, có thủ tục nhanh gọn và đơn giản. Quy mô dự án thường không lớn, thời gian thực hiện thường không dài nhưng đáp ứng kịp thời, sát với nhu cầu và phù hợp với khả năng quản lý, sử dụng của nơi nhận viện trợ. Hiện nay, nhiều nước phát triển đã dành một phần viện trợ ODA cho các nước đang phát triển thông qua các tổ chức PCP.
Số tiền viện trợ thông qua tổ chức PCP khá lớn, ngày một tăng và trên thực tế đã hỗ trợ đáng kể cho các chương trình kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Tổ chức PCP còn nhận sự hỗ trợ tài chính từ các tổ chức tôn giáo, từ các quỹ từ thiện tư 19 z nhân, từ ngân sách các chương trình trách nhiệm xã hội dân sự của doanh nghiệp, từ quyên góp với nhiều hình thức khác nhau. Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCP có thể khái quát là: Phát triển kinh tế - xã hội (gồm: Tài chính vi mô, Dạy nghề, Phát triển nông thôn tổng hợp, Phát triển ngành nghề thủ công truyền thống, Phát triển doanh nghiệp,…); Giải quyết các vấn đề xã hội (gồm: Phòng chống buôn bán người, Người khuyết tật, HIV/ AIDS, Khắc phục hậu quả chiến tranh, Giới và bình đẳng giới, Bảo trợ xã hội,…); Xây dựng năng lực tổ chức và hỗ trợ tư pháp; Y tế (gồm: Khám chữa bệnh miễn phí, Chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Dinh dưỡng, Sức khỏe sinh sản, Xây dựng cơ sở hạ tầng y tế, Giáo dục – Đào tạo y tế, Nước sạch và vệ sinh,…); Giáo dục – Đào tạo (gồm: Cấp học bổng, Xây dựng cơ sở hạ tầng giáo dục, Tăng cường chất lượng giáo dục, Giáo dục đặc biệt, Đào tạo ngoại ngữ, Đào tạo giáo viên, Đào tạo ở nước ngoài,…); Tài nguyên – Môi trường (gồm: Biến đổi khí hậu, Phòng ngừa thảm họa môi trường, Bảo vệ môi trường, Bảo vệ động vật hoang dã, Giáo dục truyền thông về môi trường,…); và một số lĩnh vực khác như: Viện trợ khẩn cấp, Viện trợ cá nhân, Tình nguyện viên, Văn hóa - thông tin - truyền thông,… * Lịch sử hình thành và phát triển Hoạt động nhân đạo và từ thiện đã có từ rất lâu trong lịch sử nhân loại, nó gắn với con người có ý thức, với những tín điều thiêng liêng. Phương Đông và phương Tây, nhà thờ và đền chùa, Thiên chúa giáo, Phật giáo và Hồi giáo gặp nhau ở khái niệm thiện và ác, khuyến khích điều lành, ngăn ngừa điều dữ.
Nhiều bộ lạc từ xa xưa đã có quy ước vụ thu hoạch đầu tiên phải dành cho các chức sắc tôn giáo và người nghèo. Ông bụt, bà tiên, chuyện Tấm Cám ở phương Đông, ông già Noel và cô bé Lọ Lem ở phương Tây đều thể hiện những ước mơ chung về cái Thiện [29, tr. Như vậy, phôi 20 z thai của hoạt động từ thiện chính là xuất phát từ lòng nhân ái. Đây là hoạt động thể hiện tính nhân văn sâu sắc của con người và phát triển theo sự tiến bộ của xã hội.
Từ 1400 năm trước Công nguyên, những người thợ đẽo đá Ai Cập đã lập quỹ tập thể để cứu trợ khi xảy ra tai nạn. Ở Hy Lạp cổ đại, người dân đã đóng nguyệt liễm để giúp vào việc mai táng hoặc khi một thành viên gặp phải khó khăn. Những thợ mộc, thợ rèn, thợ gốm, thợ thuộc da thời La Mã tám thế kỷ trước công nguyên cũng đã lập phường, lập hội tương tế. Vào thế kỷ XI và XII, dưới ảnh hưởng của Giáo Hội, nhiều tổ chức từ thiện, cứu trợ ra đời ở Châu Âu, nhất là trong giới thợ thuyền [29, tr.
Từ năm 1516, ở phương Tây, những nhà xã hội học không tưởng như Thomas More (1478 – 1535) đã nêu ra ý tưởng về nhà tế bần, nhà nuôi trẻ mồ côi, viện dưỡng lão, lớp dạy nghề,… và sau này đã được các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học Mác, Ăng ghen cũng như đã được Lê Nin, Hồ Chí Minh nhân lên trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Năm 1859, chính phủ Thụy Sỹ nảy ra sáng kiến mời 17 quốc gia hội nghị Geneve để thành lập một tổ chức quốc tế giúp đỡ nạn nhân chiến tranh và tù binh, chính thức ra đời năm 1864 dưới tên Hội Chữ thập đỏ quốc tế [29, tr. Tuy có gốc tích từ xa xưa nhưng phải đến sau chiến tranh thế giới lần thứ I và nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các tổ chức PCP mới thực sự trở thành một lực lượng xã hội rộng khắp thế giới, ở cả các nước công nghiệp phát triển lẫn các nước đang phát triển [29, tr. Bởi hai cuộc chiến tranh đế quốc thực sự là những tai họa thảm khốc của nhân loại.
Con người đứng trước thảm cảnh chết chóc, ly tán, bệnh tật, đói rách. Ngoài ra, hậu chiến tranh còn nhiều hiểm họa khác đe dọa cuộc sống con người: môi trường suy 21 z thoái, tài nguyên cạn kiệt, khoảng cách giàu nghèo, nợ nần, giá cả, dịch bệnh, dân số,… và những đòi hỏi của một trật tự thế giới mới công bằng. Trước tình hình đó, những tổ chức PCP ra đời mang nhiều tên gọi khác nhau tùy theo mục tiêu khi thành lập: cứu trợ trẻ em, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ môi trường, cứu đói, giúp đỡ người tàn tật, thầy thuốc không biên giới, chữ thập đỏ, một mái ấm cho trẻ bụi đời, cứu giúp người lưu lạc… Nhưng tất cả các tổ chức đó đều mang những tính chất chung là tự nguyện, không vụ lợi và không phải do chính phủ lập nên và vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội. Từ thập kỷ 1960 trở lại đây, các tổ chức PCPNN vươn tới các nước kém phát triển ở Mỹ Latinh, châu Phi, châu Á, châu Đại Dương.
Đồng thời nhân dân các nước này cũng thành lập các tổ chức PCP để góp phần cùng chính phủ giải quyết những vấn đề xã hội. Cũng vào thời kỳ này, hoạt động PCP chuyển dần từ cứu trợ nhân đạo sang phát triển, trở thành một trào lưu thế giới rộng khắp, liên kết các tổ chức PCP quốc tế với các tổ chức PCP quốc gia, có ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt quốc tế và đời sống xã hội các nước. Ở Mỹ, năm 1991 có tới 1,2 triệu tổ chức PCP với 260 triệu hội viên và hàng năm quyên góp được hàng trăm tỷ USD.000 tổ chức PCP trong đó có khoảng 100 tổ chức có hoạt động quốc tế.000 hội với 520 tổ chức có hoạt động quốc tế.000 tổ chức vào năm 1988 trong đó có 300 tổ chức hoạt động ở nước ngoài.000 tổ chức, Đức có 4.800 tổ chức, Thụy Sỹ có 26.000 tổ chức…[29, tr. Theo số liệu nghiên cứu của một số tổ chức PCP, ở Thái Lan, năm 1984 có khoảng 15.000 hội hoặc quỹ mang tính chất PCP của người Thái; ở Philippines (số liệu chưa đầy đủ) là từ 40.000 tổ chức; ở 22 z Indonesia, số tổ chức PCP địa phương không xác định được cụ thể vì nhiều tổ chức không đăng ký chính thức, tuy nhiên, theo ước tính, Indonesia có khoảng 3.000 TCPCP quốc gia và địa phương; ở Trung Quốc có 180.000 tổ chức (1993); ở Ấn Độ có tới hàng trăm ngàn tổ chức PCP ở nông thôn.
Số lượng tổ chức PCP ở Myanmar và Malaysia không nhiều nhưng ngược lại Bangladesh giữ kỷ lục về số lượng tổ chức PCP, nhiều đến mức mà người ta thường nói quá lên rằng nó nhiều tương đương với tỷ lệ dân số, Ở Chi Lê có 27.