Chương 1: Đặt vấn dé Trình bày sự cần thiết của để tài, mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Sơ lược về những khái niệm về nghèo đói, tín dụng của người nghèo, các phương pháp phân tổ. Nêu ra những chỉ tiêu phân tích, so sánh cũng như những chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả của quá trình san xuất và cuối cùng là nêu lên phương pháp nghiên cứu. 15 Chương 3: Tổng quan Khái quát chung về vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, dân sinh, kinh tế xã hội của xã Vĩnh Hoà Hiệp. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Khái quát tình hình chung của các hộ diéu tra và thông qua đó đánh giá lên được nguyên nhân nghèo đói.
Tìm hiểu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, kết quả sản xuất kinh doanh của 2 nhóm hộ nghèo và thoát nghèo để tìm ra nguyên nhân thoát nghèo. Từ đó đánh giá được vai trò tín dụng đến công tác giảm nghèo. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Đưa ra kết luận trong quá trình nghiên cứu Đưa ra những kiến nghị nhằm giúp người nghèo có phương thức làm ăn một cách thích hợp nhằm để gia tăng thu nhập cho họ giúp họ thoát cảnh nghèo. 16 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm nghèo và qui định nghèo đói 2. Khái niệm nghèo Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có các điều kiện vật chất và tinh than để duy trì cuộc sống của gia đình họ ở mức sống tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng. Mức sống tối thiểu ở đây được hiểu là các điều kiện ăn, ở, mặc và các nhu cau khác như văn hoá, y tế, giáo duc, đi lại, giao tiếp. chi dat mức duy trì cuộc sống rất bình thường và dưới đó là đói khổ.
Nghèo luôn luôn là dưới mức trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Giữa mức nghèo và mức trung bình có một khoảng cách, thường là 3 lần trở lên.Guilna thuộc ngân hàng phát triển châu Á đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối như sau: - Nghèo tuyệt đối: là việc thoả mãn các nhu cầu tối thiểu để nhằm duy trì cuộc sống của con người. - Nghèo tương đối: là tình trạng không đạt tới mức sống tối thiểu tại một thời điểm nào đó. Khái niệm nghèo tuyệt đối có xu hướng dé cập đến những người đang bị thiếu ăn (nghèo đói).
Khái niệm nghèo tương đối để cập đến những người nghèo nhất về phân phối thu nhập ở một nước nhất định. Vòng lẩn quan nghèo đói và điều kiện để thoát ra khỏi nghèo đói Sơ đồ 1: Vòng lan quan nghèo đói Tiết kiệm - Nghèo đói [ Thu nhập — -Dân trí thấp Đầu tư - Mức sống ale. | Nang suất Nhìn vào so đồ ta thấy: khi thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp, dau tư thấp từ đó dẫn đến năng suất thấp, thu nhập thấp và lại dẫn đến tiết kiệm thấp, đầu tư thấp. và cứ thế lặp lại.
Vòng lần quẩn của nghèo đói là sự luân chuyển từ những tình hình kinh tế, xã hội đời sống, văn hóa, phong tục tập quán. ảnh hưởng mạnh lên cuộc sống của họ làm cho họ không thoát được cảnh nghèo khổ. Đó là những vòng quay miệt mài 18 mà những người nghèo khổ khó thoát đuợc vòng quay đó. Muốn thoát được những nỗi khổ đó ta phải có chính sách tối ưu để phát triển chúng mà cụ thể để thoát ra khỏi vòng lẩn quan đó ta nên bắt dau từ vấn dé đầu tư thấp.
Đánh vào vấn dé đầu tư thấp bằng các hình thức trợ vốn, các chính sách ưu tiên để giúp ho tăng dau tư lên từ đó năng suất tăng, thu nhập tăng và cuối cùng dẫn đến tiết kiệm tăng từ đó cuộc sống nghèo khổ không còn đe dọa đến họ nữa. Thước đo mức nghèo Chuẩn mực nghèo là chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá mức nghèo. Như đã nói, chuẩn mực nghèo được sử dụng trong việc hoạch định chính sách XĐGN của các cơ quan chính phủ hiện nay là thu nhập tính trên đầu người. Chỉ tiêu này thuận lợi trong việc điều tra và đánh giá bởi vì nó có đơn vị đo lường thống nhất là bằng tiên các hộ gia đình có thể có nghề nghiệp, nguồn thu nhập hết sức khác nhau về dạng sản phẩm, song thu nhập sau khi tính toán bằng tiền hay bằng hiện vật quy đổi (như số lượng Kg gạo chẳng hạn) có thể so sánh với nhau.
Về mặt lý thuyết, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách cũng nêu ra các chỉ tiêu phụ để đánh giá tình trạng nghèo, như dinh dưỡng bữa ăn, chất lượng nhà ở, số lượng quần áo mặc và các điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại. Trong các cuộc điều tra về mức sống dân cư, những chỉ tiêu này đã được thu thập, song không được sử dụng để đánh giá mức nghèo. Lý do được đưa ra là các chỉ tiêu trên và cơ cấu chỉ tiêu phụ thuộc vào nhiều yếu tố mang tính chất vùng, dân tộc, giới tính. như sở thích phong tục tập quán, điều kiện khí hậu.
Chuẩn mực nghèo cũng đã được các cơ quan khác nhau trong chính phủ và các nhà nghiên cứu tính toán một cách khác nhau, tuy sự chênh lệch không lớn lắm. l5 Chuẩn mực nghèo do bộ LD-TBXH để ra năm 1993, lấy mức thu nhập bình quân đầu người một tháng quy ra gạo với các mức độ nghèo, đói và đói gay gắt: nghèo tuyệt đói-I5kg gạo, đói-12kg gạo và đói gay gắt kinh nién-8kg gạo. Đến năm 1996, tiêu chuẩn đó được thay đổi để áp dụng trong việc xây dựng chương trình XDGN. Nghèo lương thực, thực phẩm: Nông thôn miễn núi, hải đảo = dưới 15kg Nông thôn đồng bằng, trung du = dưới 20kg Thành thị = dưới 25kg Đói lương thực, thực phẩm: cả nước dưới 13kg Với chuẩn nghèo này, năm 1996 cả nước ta có 2,85 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 19,23% tổng số dân.
Theo quyết định số 1143/2000 của bộ trưởng LD-TBXH về điều chỉnh chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001-2005 của nước ta, bắt đầu có hiệu lực từ 1/2/2001, cụ thể như sau. Bảng 1: Chuẩn Mực Nghèo Đói của Cả Nước DVT: đồng Khu vực Chuẩn hộ nghèo Mức thu nhập bình Mức thu nhập bình quân người/năm quân người/tháng Thành thị 1.000 Nông thôn đồng bằng 1.000 Nông thôn miễn núi, hải đảo 960.000 Nguồn: Bộ LĐ-TBXH 20 Tổng cục thống kê đưa ra chuẩn mực nghèo về lương thực, thực phẩm là 2.100 calo/người/ngày tương đương với mức thu nhập 70.000 đồng/tháng ở thành thị và 50.000 đồng/tháng ở nông thôn được tính ra chuẩn mực nghèo nói chung. Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra chuẩn hộ nghèo ở các nước đang phát triển (Đông Á, Trung Đông và Bắc Phi về mặt thu nhập là dưới 370 USD/người/năm tương dương khoảng 5,2 triệu đồng/người/năm ở nước ta vào năm 1995). Theo thống kê của bộ LĐ-TBXH năm 1998 nước ta có khoảng 2,38 triệu hộ nghèo đói, chiếm 15,7% trong tổng số 12,5 triệu hộ cả nước.
Trong số đó có 300 nghìn hộ đói với 1,5 triệu dân. Đến năm 2000 con số này chỉ còn chiếm 11%. Nguyên nhân nghèo đói — Nguyên nhân tổng quát Nguyên nhân gây nên tình trạng nghèo có thể là: Sự cách biệt cả về địa lý, xã hội và tri thức. Tính rủi ro quá cao do mất mùa, bệnh tật.
Thiếu các nguồn lực san xuất thích hợp do thiếu lao động, đất đai hay vốn. Thiếu kha năng duy trì cuộc sống một cách bén vững do môi trường bị tan phá, các nguồn lực bị cạn kiệt. Thiếu sự tham gia thỏa đáng của nhân dân vào các chương trình phát triển. — Nguyên nhân cụ thể Theo bộ LD-TBXH (1997), nguyên nhân chính của tình trạng nghèo của cả nước là: 1.
Thiếu vốn sản xuất ảnh hưởng tới 70-90% số hộ ở nông thôn. Thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn 50-60% số hộ. Đông con, ít lao động 50-60% số hộ 21 4. Rủi ro, ốm đau 10-15% số hộ 5.
Thiếu lao động 5-6% số hộ 6. Mắc tệ nạn xã hội 2-3% số hộ Cuộc điều tra của bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm năm 1993 về tình hình của các hộ nghèo của cả nước đưa ra 9 nguyên nhân đói nghèo như sau: 1. Đông con, thiếu lao động: 43,5%. Ruộng đất quá ít: 61% WNoweFD Thiếu vốn sản xuất: 91,5% Gặp tai nạn, rủi ro: 18,5% Không có kinh nghiệm làm ăn: 45,5% Chi tiêu không có kế hoạch: 27,5% Mắc bệnh hiểm nghèo, ốm đau: 45,5%.
Không có nghề nghiệp ổn định: 61,5%. Các nguyên nhân khác: 15,5% Thực tế hộ nghèo thường không phải chỉ do một nguyên nhân. Những yếu tố gây nghèo vừa như là nguyên nhân vừa là hệ quả lẫn nhau. Mặc dù thời gian điều tra của bộ LD-TBXH (năm 1997) và bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm (năm 1993) là khác nhau.
Nhưng có một số nguyên nhân chính mặc dù qua nhiều năm nhưng vẫn dẫn đến tình trạng nghèo của các hộ là thiếu vốn, không nghề nghiệp ổn định, thiếu kinh nghiệm làm ăn và kiến thức làm ăn cùng với gia đình đông con, mắc căn bệnh hiểm nghèo cũng góp phần cho các hộ nghèo khó thoát nghèo. Khái niệm tín dụng vì người nghèo 22, Có thể nói, nghèo khổ có nhiều nguyên nhân, nếu các chính sách cũng như các hoạt động chống nghèo khổ là bao gồm nhiều mặt, biện pháp thực hiện. Dĩ nhiên, không có giải pháp XĐGN theo cách chính phủ đứng ra cứu tế thường xuyên, càng không thể tước đoạt của người giàu làm ăn chính đáng đem cho người nghèo. Quan điểm hỗ trợ ngày nay là động viên tính chủ động tích cực sẵn có của mỗi người trên cơ sở tác động của các hoạt động gợi ý hướng dẫn và cung cấp cho họ phương tiện cần thiết như giúp họ “cần câu” chứ không đưa “cá ” cho họ ăn.
Nhu cầu vốn, được coi là bức thiết của số đông hộ nghèo hiện nay và sẽ còn là nhu cầu thời gian dai sau này bởi lẽ. Chúng ta biết rằng khi cơ chế thị trường hoạt động đúng quỹ đạo của nó, tất yếu chính sách của nhà nước sẽ tập trung vào các cơ sở hạ tang chủ yếu. Vì vậy, việc tiết giảm ngân sách trong việc trợ cấp thường xuyên là tất yếu, song nếu được thay thế bằng hình thức trợ vốn (TD) thì không những làm ảnh hưởng đến cơ hội làm cải thiện cuộc sống cho người nghèo, ngược lại nó còn động viên tính trách nhiệm và lòng tự tin nơi người nghèo, rằng họ có thể vươn lên trước sự quan tâm và khích lệ của mọi người. Tín dụng cho người nghèo là một trong hệ thống các giải pháp giảm bớt nghèo khổ.