Chương 1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU 1. Khái quát về huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Huyện Tam Đường là huyện nằm cách trung tâm tỉnh Lai Châu khoảng 30km về phía Đông Bắc. Đây là huyện có vị trí khá thuận lợi, có đường quốc lộ 4D từ thủ đô Hà Nội đến trung tâm tỉnh Lai Châu chạy qua. Tam đường tiếp giáp với nhiều huyện khác trong và ngoài tỉnh nên việc thông thương có nhiều thuận lợi.
Phía Bắc giáp huyện Phong Thổ, phía Tây giáp huyện Sìn Hồ và thị xã Lai Châu, phía Đông giáp huyện Sa Pa của tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp với huyện Sìn Hồ và Than Uyên. Tam Đường có địa hình rất phức tạp vì được cấu tạo bởi những dãy núi dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Phía Đông là dãy Hoàng Liên Sơn kéo dài hơn 80km với đỉnh cao nhất là Phan xi păng cao 3.143m, phía Tây là dãy Pu sam cáp kéo dài khoảng 60km, xem kẽ là các thung lũng và sông suối. Ở đây nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu chia 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.
Nhiệt độ trung bình trong năm vào khoảng 22 – 26 độ C, độ ẩm là 38%. Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên khoảng 686,57 km2, trong đó diện tích đồi núi và sông suối chiếm hơn 70% tổng diện tích tự nhiên, đất canh tác của bà con nơi đây chỉ chiếm 10% tổng diện tích tự nhiên của huyện; có số dân trên 43 vạn người (trong đó tỉ lệ nữ giới nhiều hơn nam giới, trên 60%) bao gồm 14 xã, thị trấn và 145 bản. Huyện có 14 đơn vị hành chính sự nghiệp gồm có thị trấn Tam Đường và các xã : Sùng Phài, Nùng Nàng, Bản Giang, Bản Hon, Thèn Sin, Tả Lèng, Hồ Thầu, Giang Ma, Bình Lư, Sơn Bình, Nà Tăm, Bản Bo và Khun Há. Hoàng Thị Thuận – VHDT 12A 12 Khóa luận tốt nghiệp Trước đây, khi Lai Châu chưa chia tách thành hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên vào năm 2003 thì vùng đất này là một trong những địa phương có tỉ lệ đói nghèo cao nhất trong cả nước.
Ngày nay, nhờ chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, cùng với sự nỗ lực vượt khó đi lên của đồng bào các dân tộc trong toàn huyện thì bộ mặt nông thôn mới nơi đây đã có bước khởi sắc. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của huyện là 15 – 16% và thu nhập bình quân đầu người là khoảng 6,6 triệu đồng (vào năm 2008). Hiện nay đã hình thành trong huyện những vùng sản xuất tập trung như: vùng sản xuất lúa ở Bình Lư – Bản Bo – Thèn Sin, vùng sản xuất chè ở Bản Giang – Bản Bo – Thèn Sin – Tả Lèng, sản xuất dong riềng ở Bình Lư, nuôi trồng thủy sản ở thị trấn Tam Đường – Bình Lư – Bản Giang – Sơn Bình và vùng chăn nuôi đại gia súc là ở các xã vùng cao. Hạ tầng kinh tế xã hội cũng đã có nhiều bước phát triển khá đồng bộ, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân: 14/ 14 xã đã có đường ô tô đến trung tâm và trong số này có trên 57% được rải nhựa, 100% các xã ở trung tâm đã có trường học kiên cố, 10/14 xã có trụ sở làm việc 2 tầng và điểm bưu điện văn hóa xã, 100% xã có điện thoại liên lạc.
Văn hóa xã hội vẫn được chính quyền các cấp và nhân dân trong huyện tiếp tục phát triển cả về quy mô và số lượng, chất lượng. Và hệ thống chính trị của huyện cũng luôn được quan tâm củng cố và tăng cường. Đây là một huyện có nhiều điều kiện thuận lợi: có vị thế đẹp, thông thương thuận lợi, có cảnh quan đẹp, có nhiền dòng suối và thung lũng nhỏ thuận lợi cho sản xuất ruộng nước. Vì vậy mà đây là nơi cư trú khá lâu đời của một bộ phận dân tộc Thái Lai Châu.
Tại đây họ sống, lao động sản xuất và đã hình thành một nền văn hóa Thái mang những đặc điểm riêng, phong phú và đặc sắc. Trải qua thời gian dài, cuộc sống của họ cũng có nhiều biến đổi cùng với những đổi thay qua các giai đoạn lịch sử của đất nước và tình hình kinh tế xã hội của thế giới và khu vực. Hoàng Thị Thuận – VHDT 12A 13 Khóa luận tốt nghiệp 1. Người Thái ở huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu 1.
Môi trường sống và dân số Huyện Tam Đường có địa hình đa dạng gồm các huyện vùng núi vùng cao, vùng thấp và vùng hỗn hợp, tổng diện tích tự nhiên của huyện là 68.736,97 ha,trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp là 9.909,96 ha ( trồng cây hàng năm 8.556,06 ha, trồng cây lâu năm 1.353,90 ha); đất chưa sử dụng 24.570,09 ha; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 759,10 ha, đất nông nghiệp khác 3,33 ha. Và người Thái chủ yếu sinh sống ở các xã thuộc vùng thấp, có địa hình tương đối bằng phẳng, nguồn nước thuận tiện. Khí hậu vùng người Thái sinh sống chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, về mùa đông nhiều khi có sương mù và sương muối. Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số toàn tỉnh Lai Châu là 336,936 người, trong đó người Thái có số dân đông nhất là 110,321 người (chiếm 35,19% tổng số dân của tỉnh), rồi đến người H’Mông 68,558 người (chiếm 21,87%), đến người Kinh 39,775 người (chiếm 12,69%) và người Dao 37,120 người (chiếm 11,84%),….
Người Thái là dân tộc có số lượng đông nhất của tỉnh sống tập trung tại các huyện Mường Tè, Sìn Hồ, Phong Thổ, Tam Đường, Than Uyên và thị xã Lai Châu. Ở Tam Đường, có 8319 hộ với dân số là 44.143 người và gồm có 9 dân tộc anh em sinh sống (Mông, Dao, Giáy, Lào, Lự, Thái, Hà Nhì,…. Trong đó, người Thái có số dân là 8. Người Thái có 2 ngạch là Thái Đen và Thái Trắng.
Tại huyện Tam Đường, chỉ có người Thái Trắng sinh trú và họ cũng chỉ tập trung ở các xã: Thèn Sin, Bình Lư, Bản Bo và thị trấn Tam Đường. Tỷ lệ người Thái cư trú tại huyện Tam Đường, Lai Châu được thể hiện qua Bảng 1 sau: Bảng 2.1: Tỷ lệ người Thái cư trú tại các xã của huyện Tam Đường. Hoàng Thị Thuận – VHDT 12A 14 Khóa luận tốt nghiệp STT Tên xã có người Thái Số người Thái cư Tỷ lệ người Thái trong cư trú trú trong xã tổng dân số toàn xã 1 Thèn Sin 2078 45% 2 Bình Lư 3721 65% 3 Bản Bo 611 20% 4 Thị trấn Tam Đường 2945 29% Từ bảng thống kê về dân số và nhà ở ( năm 2009) cho thấy người Thái cư trú xen lẫn với các dân tộc Kinh, Dao, Giáy và Lự. Như ở xã Thèn Sin thì có 14 bản toàn người Thái và đa số là người Thái, 6 bản người Dao, 5 bản người Giáy, còn người Lào sống xen kẽ với các dân tộc khác không có địa bàn cư trú riêng.
Vậy là tính chất cư trú xen kẽ của người Thái với các dân tộc khác thể hiện ở hai mức độ: mặc dù xen kẽ trong nội bộ xã nhưng lại cư trú thành từng làng, bản riêng biệt; và cư trú xen kẽ trong các làng, bản ( nghĩa là một bản nhưng có đồng thời nhiều dân tộc cùng sinh sống, ví dụ như bản Nà Đa của thị trấn Tam Đường có đồng thời cả người Kinh, người Thái, người Dao và người Lự cùng chung sống). Địa bàn cư trú của người Thái chủ yếu là các xã vùng thấp của huyện Tam Đường. Họ sống chủ yếu trong các thung lũng và các cánh đồng nhỏ để có thể tạo lập cuộc sống rất đặc trưng của người Thái, đó là nghề làm ruộng và làm nương.Trong các thung lũng và các cánh đồng mà người Thái sinh sống, dù to hay nhỏ, cao hay thấp so với mặt nước biển thì đều có cảnh quan là: có suối chảy qua làng bản để tạo thành vùng đồng bằng thuận lợi cho việc làm ruộng cấy lúa nước, tiếp theo, ngoại vi nơi ở của họ phải tiếp giáp với chân núi, sườn núi là những khu ruộng bậc thang thuận lợi cho việc trồng lúa nương và các cây lương thực khác. Hiện nay hình thái tụ cư chủ yếu của người Thái là tập trung và khép kín.
Họ sống trong các bản làng, các ngôi nhà trong bản thường được dựng theo kiểu “Nối chân cầu thang liền rãnh nước”. Giữa các bản được nối với Hoàng Thị Thuận – VHDT 12A 15 Khóa luận tốt nghiệp nhau bởi các con đường liên bản và con đường này cũng nối ra các cánh đồng. Người Thái chọn cho mình những nơi lập bản mường khá thuận tiện cho việc sản xuất và sinh hoạt, điều này cũng góp phần tạo nên một dân tộc Thái với những đặc trưng riêng về lối sống và phong tục tập quán. Những nét cơ bản về kinh tế, xã hội và văn hóa của người Thái ở huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu 1.
Đặc điểm về kinh tế Trước năm 1945 kinh tế ở vùng người Thái, huyện Tam Đường còn rất lạc hậu, là nền kinh tế nông nghiệp mang nặng tính tự cấp, tự túc. Người Thái sinh sống chủ yếu bằng sản xuất ruộng nước, ngoài ra còn có tập quán canh tác trên nương, rẫy. Các ngành kinh tế khác như chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp… có vai trò bổ trợ, chỉ đáp ứng phần nào nhu cầu vật chất của người dân. Họ sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, thể hiện qua săn bắt và hái lượm.
Dân tộc Thái có câu “ Miếng cơm từ đất, thức ăn từ rừng”. Và canh tác ruộng nước là truyền thống lâu đời của người Thái. Người Thái gọi những cánh đồng bằng phẳng ở thung lũng là na. Họ làm các hệ thống mương phai tưới tiêu để cấy lúa nước và coi đây là công việc quan trọng hàng đầu trong sản xuất.
Về công cụ lao động, đồng bào đã sử dụng sức kéo của gia súc (trâu, bò, ngựa) để cày bừa, cuốc, xẻng, thuổng để ngăn đập, be bờ,….Ngày nay còn có sự hỗ trợ từ các thành tựu khoa học kỹ thuật như máy cày, bừa, gặt, tuốt lúa,… Người Thái có nhiều kinh nghiệm và có kỹ thuật trong việc trồng lúa nước. Họ căn cứ vào địa hình mà chia ruộng lúa nước thành các loại sau: ruộng bằng, ruộng bậc thang và vùng ruộng bằng và lớn thì tạo ra các cánh đồng. Về độ phì nhiêu của đất thì ruộng bằng bao giờ cũng tốt hơn ruộng chờ nước và ruộng gần bản bao giờ cũng thuận lợi cho việc canh tác hơn ruộng xa bản.