đặt vấn đề về cách nhìn nhận vai trò của người phụ nữ. Điểm hạn chế của cách tiếp cận này là coi h 8 phụ nữ như một nhóm đặc thù và những giải pháp được đưa ra cũng là những giải pháp đặc thù [13]. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội + Vai trò: là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể mà địa vị là một sự xác định vị trí xã hội trong một cơ cấu xã hội. + Xã hội: xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa.
+ Phát triển xã hội: Phát triển xã hội có nội hàm rộng nhất bao gồm phát triển tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm chuyển xã hội từ trạng thái này sang trạng thái khác theo hướng xây dựng xã hội phát triển dân chủ, văn minh, tiến bộ, đảm bảo cuộc sống văn minh vật chất và tinh thần của con người, tất cả vì hạnh phúc của con người. Theo đó, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đều phải được tôn trọng, quản lý phát triển nhằm bảo đảm quyền con người, bảo đảm tự do và công bằng, thoả mãn nhu cầu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. + Vai trò giới là những quan niệm văn hóa xã hội được thống nhất tại địa phương về chức năng tác dụng của phụ nữ và nam giới, mà tại địa phương đó được coi là thông thường và phù hợp. Vai trò giới có thể thay đổi được theo thời gian, cùng với sự phát triển của xã hội, nhanh hay chậm tùy và sự tác động tích cực của mỗi giới, mỗi cá nhân.
Vai trò các thành viên trong gia đình phụ thuộc lẫn nhau. Vai trò sản xuất của nam giới thường đưa vào vai trò tái sản xuất của phụ nữ. Thường nam giới có thì giờ rảnh rang để làm công tác chuyên môn hoặc hoạt động chính trị là vì vợ ông ta lo công việc nội trợ trong gia đình và chăm sóc các con. Hơn nữa, do phụ nữ là người thực hiện chính các vai trò sinh sản và nuôi h 9 dưỡng, nên giá trị công việc của phụ nữ thường không được xã hội và các nhà lập chính sách đánh giá đầy đủ [2].
* Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội: Gia đình là một tế bào của xã hội và tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội. Người phụ nữ là người thiết tha nhất với hạnh phúc gia đình, đóng vai trò rất quan trọng giữa gia đình và xã hội trong mọi thời đại. Phụ nữ vừa là người công dân, người lao động, vừa là người mẹ và người thấy đầu tiên của con người; phụ nữ có vai trò quan trọng trong xây dựng gia đình cần tạo điều kiện để phụ nữ kết hợp hài hòa giữa nghĩa vụ công dân và chức năng người mẹ trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất.
Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động; số giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2 trong tổng sản lượng nông nghiệp. Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao. Theo kết quả của những nghiên cứu trước phụ nữ là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình. 1/4 số hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ.
Tuy vậy sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt là ở vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội thấp. Trong số hơn 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì có đến 70% là nữ. Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng về mang thai, sinh đẻ… [2].
Ở Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, vai trò của phụ nữ đã được quan tâm nhiều hơn. Ngày càng có nhiều phụ nữ đảm nhiệm các vị trí quan trọng trong hệ thống các cơ quan lãnh đạo Đảng, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ h 10 chức xã hội - nghề nghiệp. Trong bộ chính trị hiện có 3 nữ Ủy viên; trong ban bí thư có 2 thành viên nữ; trong Ban chấp hành Trung ương hiện có 9 Ủy viên là nữ. Việt Nam có Chủ tịch quốc hội là nữ, Trưởng Ban pháp chế quốc hội là nữ.
Trong Chính phủ hiện có 2 nữ Bộ trưởng. Tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội nhiệm kỳ 2011 - 2016 là 24,4% (cao thứ 2 trong khu vực và thứ 43 trên thế giới). Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh là 25,2%, cấp huyện là 24,6%, cấp xã là 21,7% [15]. Về dân số, lao động và kinh tế, nữ giới cũng chiếm tỷ lệ cao và có vai trò rất quan trọng về kinh tế.
Trong tổng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên, nữ giới chiếm 48,5%. Trong tổng số lao động làm việc ở các doanh nghiệp của cả nước, nữ giới chiếm 42,1%. Tỷ lệ nữ làm việc trong một số ngành chiếm tỷ trọng lớn, như dệt may trên 70%, nông lâm thủy sản 53,7%, thương mại… Tỷ lệ nữ tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp là hơn 20%, khá cao so với khu vực và trên thế giới; những doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ thường có sự phát triển toàn diện, bền vững hơn và tham gia tốt hơn trong công tác xã hội. Thu nhập bình quân đầu người một tháng của hộ gia đình do nữ làm chủ hộ cao hơn 22,4% so với con số tương ứng của hộ do nam giới làm chủ hộ [15].
Về giáo dục đào tạo, nữ giới có nhiều đóng góp to lớn. Giáo viên, một chủ thể quan trọng của lĩnh vực này thì nữ giới chiếm tỷ lệ khá cao: chiếm tỷ lệ gần như tuyệt đối ở hệ mẫu giáo; chiếm 70,9% bậc phổ thông; chiếm 48,9% giảng viên đại học, cao đẳng; 41,2% giảng viên trung cấp chuyên nghiệp. Tỷ lệ nữ học sinh phổ thong đạt 49,4%; nữ sinh viên đại học, cao đẳng đạt 49.4%, trung cấp chuyên nghiệp đạt 53,7% [15]. Đạt được kết quả trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước sớm xác định nam nữ bình quyền từ khi Đảng ra đời, từ Hiến pháp 1946, từ năm 1982 khi Việt Nam phê chuẩn Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ h 11 nữ, từ năm 2006 thông qua luật Bình đẳng giới, năm 2007 thông qua Luậh nhân và gia đình, Nghị quyết 11 - NQ/TW của Bộ Chính trị, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới 2011 - 2020… có nguyên nhân từ sự cố gắng của các ngành, các cấp, các đoàn thể xã hội và của người dân.[17] Bên cạnh những kết quả tích cực, về bình đẳng giới vẫn còn những hạn chế, bất cập và đứng trước những thách thức không nhỏ.
Bao trùm nhất là tư tưởng định kiến trọng nam kinh nữ. Việc thực hiện trong thực tế còn có khoảng cách với quy định pháp luật. Định kiến giới còn khá phổ biến trong mọi đối tượng, trên nhiều mặt. Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh (số bé trai/100 bé gái) đã tăng lên nhanh (từ 105,5 năm 2005 lên 111,2 năm 2010, lên 111,9 năm 2011; ở khu vực thành thị, ở một số vùng cao còn hơn) gây ra nguy cơ mất cân bằng giới tính.
Bạo lực gia đình, tệ mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em, môi giới +lấy chồng người nước ngoài diễn ra phức tạp. Tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý còn thấp. Ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi phong tục tập quán lạc hậu, tỷ lệ phụ nữ nghèo, phụ nữ mù chữ còn cao [17]. Phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ 2.
Một số khái niệm: + Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống [7]. + Phát triển kinh tế: là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống [7]. + Hộ: là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, họ cùng sống chung hay không cùng sống chung dưới một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập và ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung [3].
h 12 + Hộ nông dân: là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp, theo nghĩa rộng hơn bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn [3]. + Kinh tế hộ nông dân: là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất. Mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển [3]. Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ Có thể nói người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay trở thành một chủ thể quan trọng trong đời sống các gia đình.
Họ cũng là người lao động trong lĩnh vực buôn bán dịch vụ góp phần tạo nên nguồn thu tiền mặt cho gia đình. Cùng với chồng, người vợ cũng trở thành người tạo ra nguồn thu nhập chính. Ở nông thôn khi mà người chồng đi làm thuê xa kiếm tiền cho gia đình thì người vợ trở thành người lao động chính, họ là chủ thể chính phát triển kinh tế hộ nông dân ở nông thôn. Ở thành phố, phụ nữ là lực lượng chính phát triển buôn bán - dịch vụ.
Và khi là người làm trong các công sở thì lương tháng của họ cũng như lương của đồng nghiệp nam.