phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 chương, 6 tiết. Chƣơng 1: Vấn đề nông dân và phát huy vai trò của nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Chƣơng 2: Thực trạng phát huy vai trò của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp phát huy vai trò của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 VẤN ĐỀ NÔNG DÂN VÀ PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA NÔNG DÂN TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƢỚC TA 1. Giai cấp nông dân và vai trò của nông dân trong quá trình xây dựng và phát triển đất nƣớc 1. Khái niệm và đặc điểm của nông dân 1. Khái niệm nông dân Có nhiều quan niệm khác nhau về nông dân, theo Đại từ điển tiếng Việt, nông dân là “người sống bằng nghề làm ruộng” [65, tr.
Hay một quan niệm khác “Nông dân - một giai cấp chuyên sản xuất những sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở tư hữu tư nhân hoặc sở hữu hợp tác xã về tư liệu sản xuất hoặc tham gia sản xuất bằng lao động của chính mình. “Nông dân được coi là những trang chủ gia đình, những người sản xuất lương thực cho bản thân và cho các nhóm xã hội khác có địa vị cao hơn” [34, tr. Một vài định nghĩa như vậy để thấy rằng, nói đến nông dân là nói đến một bộ phận dân cư lao động, gắn liền với sản xuất nông nghiệp, có cuộc sống và thu nhập từ lao động nông nghiệp. Tuy nhiên, do quá trình phát triển của các lĩnh vực kinh tế, sự đa dạng của các ngành nghề lao động sản xuất dẫn tới sự xáo trộn dân cư mà trong thực tế ở Việt Nam hiện nay có nhiều người lao động sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp, cũng sống ở nông thôn nhưng họ không phải là nông dân như giáo viên, bác sĩ… Hoặc do chính sách phát triển kinh tế trang trại hiện nay, có một số dân cư đô thị, cán bộ công chức mua đất lập trang trại, tổ chức sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp nhưng họ không phải là nông dân thuần túy [58, tr.
Khái niệm nông dân đã được C. Ăngghen làm rõ qua nhiều tác phẩm của mình: 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Về kinh tế: “Mỗi gia đình nông dân gần như tự túc hoàn toàn, sản xuất ra đại bộ phận những cái mình tiêu dùng và do đó kiếm được tư liệu sinh hoạt cho mình bằng cách trao đổi với tự nhiên nhiều hơn là giao tiếp với xã hội [44, tr. Nghĩa là nông dân là những người trực tiếp sử dụng các tư liệu sản xuất tự nhiên để sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp. Họ tự sản xuất ra những thứ mình cần, tự cung, tự cấp những cái mà họ cần.
Nền sản xuất hoàn toàn mang tính tự nhiên. - Về mặt chính trị - xã hội: Do điều kiện kinh tế như vậy nên nông dân vừa là một giai cấp vừa không phải là một giai cấp. Họ là một giai cấp bởi vì họ có điều kiện sinh hoạt giống nhau, trình độ chính trị - tư tưởng giống nhau, mà điều này khác với giai cấp khác. Tuy nhiên họ không là giai cấp, khi xét trong mối quan hệ họ chỉ có mối liên hệ địa phương chứ không có mối liên hệ toàn quốc và rộng hơn nữa họ chỉ có mối liên hệ làng xã, mối quan hệ họ hàng.
Mối quan hệ của họ chỉ bó hẹp trong làng xã của mình mà thôi. Trình độ văn hoá của nông dân thấp kém, tư tưởng bảo thủ và họ không có hệ tư tưởng riêng. Vì vậy, họ không có khả năng tổ chức ra những tổ chức chính trị của mình, không có khả năng đại biểu cho lợi ích của chính họ mà cần phải có người khác đại biểu cho họ, đại biểu cho lợi ích của họ. Người đại biểu của họ đồng thời cũng là người chủ của họ, lực lượng xã hội này được coi như là quyền uy tối cao của xã hội (điều này thể hiện thông qua Nhà nước) [44, tr.
Qua đây có thể thấy, nông dân là một bộ phận dân cư đông đảo, sống tập trung ở nông thôn, lao động sản xuất vật chất trong ngành nông nghiệp, trực tiếp sử dụng các tư liệu sản xuất tự nhiên để sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp. Các văn kiện của Đảng ta tuy không nói đến khái niệm nông dân nhưng qua các quan điểm về nông dân gắn với nông nghiệp, nông thôn có thể khái quát quan điểm của Đảng về nông dân như sau: “Nông dân là khái niệm chỉ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về thân phận hay nghề nghiệp của một nhóm dân cư trong xã hội, phân biệt với công nhân, trí thức. Nông dân theo khái niệm này thường có hai tiêu chí phân biệt: một là, nghề nghiệp chính là trồng trọt và chăn nuôi; hai là, sinh sống ở nông thôn (phân biệt với thành thị)” [5, tr. Gần đây có một số công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm nông dân một cách phù hợp hơn, như: “Nông dân được coi là những người nuôi mình với tư cách là người lao động, trồng trọt trên đất đai và sống trong những làng mạc nhỏ bé” [1, tr.
Hoặc “Nông dân ở nước ta hiện nay là những người sống lâu đời ở thôn (làng, bản, ấp) lấy sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng) làm nguồn sống chính dưới hình thức hộ gia đình” [2, tr. Tóm lại, theo tác giả luận văn, nông dân ở nước ta hiểu theo nghĩa hẹp là những người lao động sống bằng nghề làm ruộng, sống ở nông thôn, thu nhập chủ yếu bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi, sản phẩm của họ là lương thực, thực phẩm và tư liệu sản xuất chủ yếu của họ là ruộng đất. Theo nghĩa rộng, giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao động sản xuất nhỏ trong nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp), nghề nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp, nguồn sống chủ yếu dựa vào thu nhập từ các sản phẩm nông nghiệp, trực tiếp canh tác để tạo ra nông sản bằng việc sử dụng tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù gắn bó với thiên nhiên là đất, rừng, biển để sản xuất ra sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp. Đặc điểm của nông dân Giai cấp nông dân là một giai cấp xã hội đặc biệt hình thành trong quá trình tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ.
Sự tồn tại của giai cấp nông dân gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp.Ăngghen đã phân tích những đặc điểm quan trọng của giai cấp nông dân và khẳng định giai cấp công nhân muốn thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình thì tất yếu phải liên minh chặt chẽ với nông dân. Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng nông dân có những đặc điểm cơ bản sau: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhất, nông dân là những người sản xuất nhỏ, phân tán manh mún, không đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến nào. Vì vậy giữa họ không có một sự đoàn kết chặt chẽ. Nông dân là những người sản xuất nhỏ, họ là người chủ sở hữu tư liệu sản xuất nhỏ lẻ, manh mún như đất đai, nông cụ và do đó không thể có được nền kinh tế độc lập.
Người nông dân “chỉ sống với những lợi ích riêng nhỏ nhặt của họ, vì cái khung cửi, vì mảnh vườn cỏn con của họ và không biết gì đến phong trào mạnh mẽ đang lay động loài người ở bên ngoài xóm làng của họ” [42, tr. Tuy nhiên, chính phương thức sản xuất manh mún đã trói buộc tư duy của người nông dân trong giới hạn chật hẹp, phường hội, tạo nên tâm lý, cách sống bảo thủ, cục bộ, phân tán biệt lập.Mác viết: “một mảnh đất cỏn con của người nông dân và gia đình anh ta, cạnh đó là một mảnh đất cỏn con khác của một người nông dân khác và một gia đình khác, một nhúm những đơn vị ấy họp thành một làng, một nhúm làng họp thành một tỉnh” [42, tr.Mác và Ăngghen cho rằng: “Trong hoạt động sản xuất của họ một miếng đất nhỏ bé, không cho phép họ áp dụng một sự phân công lao động nào cả, do đó cũng không cho phép một sự phong phú nào về các quan hệ xã hội”. Điều này khác hẳn với giai cấp công nhân. Ăngghen khẳng định rằng: “Gia đình và ở một mức độ lớn hơn là làng đã tự cấp, tự túc và sản xuất được gần đủ hết các thứ cần thiết cho mình.
Lúc bấy giờ, đó hầu như là nền kinh tế hoàn toàn tự nhiên, hầu như người ta không bao giờ dùng đến tiền cả” [45, tr. Như vậy, những người nông dân này sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, từng người sản xuất nhỏ trên những mảnh đất nhỏ bé của mình. Nền sản xuất của họ vẫn là sản xuất tự nhiên, tự cung, tự cấp, tự túc, họ sản xuất phân tán, giữa họ không có mối liên hệ nào ràng buộc ngoài mối liên hệ địa phương. Vì vậy, họ sống tản mạn, manh mún, phân tán và giữa họ không có sự đoàn kết chặt chẽ nào cả, họ chỉ có mối liên hệ làng xã, bó hẹp trong làng xã.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai, nông dân có bản chất hai mặt, một mặt họ là những người lao động - đây là mặt cơ bản, mặt tích cực, mặt khác họ cũng là những người tư hữu - đây là mặt hạn chế, tiêu cực. Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức” khi phân tích vị trí của tiểu nông, Ăngghen đã đi sâu vào phân tích bản chất hai mặt của tiểu nông. Mặt lao động của tiểu nông, với tư cách là người lao động thì tiểu nông bị bóc lột nặng nề, họ cũng có nhu cầu được giải phóng, do đó mà họ sẵn sàng ngả theo công nhân để xoá bỏ chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa. Song mặt khác, người nông dân là người tư hữu nhỏ.
Vì vậy, người nông dân sợ chuyển giao ruộng đất vào tay toàn thể xã hội, do đó họ không có tính cách mạng mà thường có thái độ lừng chừng. Khi đã được giải phóng họ thường thoả mãn với những cái đã có, họ không muốn đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là mặt hạn chế của nông dân.Mác cũng đã chỉ ra nông dân vừa là người tư hữu vừa là người lao động bị áp bức, bóc lột nặng nề.