đặt vấn đề trong một bối cảnh không gian, thời gian cụ thể, trong những điều kiện lịch sử cụ thể và có mối quan hệ biện chứng với các điều kiện khác trong bối cảnh ấy 9. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 9. Phương pháp phân tích tài liệu Phân tích tài liệu là phương pháp nghiên cứu dựa trên các tư liệu, các văn bản, các tác phẩm (sách, báo, công trình nghiên cứu) liên quan nhằm phục vụ cho công việc nghiên cứu. Tài liệu được tác giả sử dụng để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình là các công trình nghiên cứu về vấn đề phụ nữ nông thôn, phụ nữ nhiễm HIV/AIDS trước đó thuộc các lĩnh vực như y học, xã hội học, công tác xã hội.
Bên cạnh đó, tác giả nghiên cứu các báo cáo của phòng Lao động - Thương binh và xã hội, Hội liên hiệp phụ nữ, chi cục thống kê, trung tâm y tế dự phòng huyện phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Qua tìm hiểu và phân tích các tài liệu kể trên sẽ giúp tác giả có những cơ sở căn cứ khoa học bổ sung cho cho nghiên cứu của mình được hiệu quả và chính xác hơn. Phương pháp quan sát Để thu thập được những thông tin cần thiết, đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp quan sát. Quát sát trong nghiên cứu xã hội được hiểu là quá trình tri giác và ghi chép mọi yếu tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu phù hợp với đề tài và mục tiêu nghiên cứu.
Đây cũng là một phương pháp nhằm kiểm tra tính xác thực của những thông tin thu được trước đó hoặc những thông tin thu được từ những phương pháp khác nhau. Phương pháp quan sát được vận dụng trong quá trình gặp gỡ với phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS, với các cán bộ… nhằm xem xét thái độ, cách ứng xử, giao tiếp, hành vi của họ để có những đánh giá đúng đắn hơn. Phương pháp này nhằm đánh giá thông tin chung, mang tính tổng quát, khái quát, giúp cho quá trình thực hiện đề đài được sáng rõ và chính xác. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi (anket) Trưng cầu ý kiến là phương pháp thu thập thông tin, dựa trên tác động về mặt tâm lý trực tiếp hay gián tiếp giữa nhà khoa học và người được hỏi ý kiến để tìm ra các quan điểm phổ biến nhất trong đám đông. Đây là phương pháp thường được sử dụng trong các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm. Trong quá trình trưng cầu, người được hỏi trả lời theo cách tự viết vào bảng hỏi mà họ nhận được từ điều tra viên. Nguồn thông tin thu được ở đây là các câu trả lời của người được hỏi thể hiện quan điểm, thái độ và ý thức của người trả lời.
Đây là một phương pháp được sử dụng trong quá trình thu thập thông tin và nó mang tính chất là một phương pháp bổ trợ. Bảng hỏi được sử dụng trong quá trình thu thập thông tin bao gồm bộ câu hỏi 25 câu nhằm tìm hiểu thông tin về cá nhân như: tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia đình, tâm lý và nhu cầu hỗ trợ của phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS,… Tác giả tiến hành trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi với lượng mẫu n = N = 93. Phương pháp phỏng vấn sâu Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu kết hợp với phương pháp quan sát nhằm mục đích thu được những thông tin mang tính chiều sâu. Phương pháp này giúp tác giả hiểu kỹ, hiểu sâu hơn về một vấn đề nào đó phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 3 phụ nữ bị lây nhiễm HIV từ chồng và 3 phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS nhưng bản thân họ không mắc căn bệnh này để thu thập, khai thác các thông tin liên quan đến nhu cầu, mong muốn của đối tượng hay những khó khăn mà họ gặp phải trong đời sống, nguyên nhân của những khó khăn đó…, phỏng vấn sâu 2 cán bộ phụ trách các công việc liên quan đến công tác xã hội tại địa phương. Ngoài ra, tác giả còn tiến hành phỏng vấn sâu người dân, lãnh đạo cơ quan, đại diện chính quyền địa phương để thu thập thông tin nhằm đánh giá nhận thức của cộng đồng xã hội về nghề CTXH và các hoạt động trợ giúp phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS. Đồng thời, quá trình phỏng vấn sâu còn giúp tác giả hiểu được bản chất của vấn đề, từ đó có định 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hướng cho việc đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện và nguyện vọng của đối tượng, của địa bàn nghiên cứu. Phương pháp thảo luận nhóm Phương pháp này giúp chúng ta thu thập thông tin từ những người tiếp xúc nhằm mục đích đánh giá thực trạng đời sống và nhu cầu của những phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS.
Đề tài tiến hành thảo luận với 3 nhóm: + Nhóm 1: Nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS tại xã Đắc Sơn, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (7 phụ nữ) + Nhóm 2: Nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS tại xã Vạn Phái, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (7 phụ nữ) + Nhóm 3: Nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS tại xã Hồng Tiến, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (7 phụ nữ) 9. Kỹ năng Công tác xã hội 9. Kỹ năng lắng nghe Đây là một trong những kỹ năng cơ bản trong Công tác xã hội, đòi hỏi người nhân viên CTXH phải rèn luyện để vận dụng một cách có hiệu quả. Lắng nghe không chỉ đơn giản là quá trình tri giác để thu nhận thông tin từ người nói mà còn là sự lắng nghe bằng mọi giác quan, nghe bằng tai, bằng mắt, bằng cả trái tim, và phải biết tránh các yếu tố gây nhiễu trong quá trình lắng nghe cũng như biết nghe có chọn lọc, đồng thời nhân viên CTXH phải loại bỏ hoàn toàn những định kiến và những suy nghĩ chủ quan của bản thân về thân chủ để có thể hiểu suy nghĩ và lời nói của họ một cách chính xác.
Đó cũng chính là việc nhân viên CTXH thực hiện nguyên tắc chấp nhận thân chủ. Với những phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS cũng vậy, khi khai thác những vấn đề nhạy cảm mà họ cảm thấy khó trả lời, việc lắng nghe tích cực sẽ tạo cảm giác được tôn trọng và như vậy thân chủ sẽ tin tưởng và chia sẻ những vấn đề của mình một cách sâu sắc hơn. Kỹ năng phân tích và nhận diện vấn đề 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi thu thập những thông tin về đời sống của người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS, thông tin về công tác hỗ trợ của địa phương đối với nhóm đối tượng này, NVCTXH phải biết sàng lọc thông tin. Trên cơ sở đó, NVCTXH tiến hành đánh giá và nhận diện xem đâu là vấn đề bức thiết nhất cần hỗ trợ giải quyết cho họ.Khi đánh giá và nhận diện vấn đề của thân chủ, NVXH cần phải phân tích, sắp xếp nhu cầu ưu tiên cần giải quyết của thân chủ và xem xét đánh giá khả năng của thân chủ cũng như các nguồn lực có thể hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn đề của họ.
Kỹ năng vấn đàm Vấn đàm là một trong những công cụ của Công tác xã hội nhằm mục đích thu thập thông tin hay chia sẻ thông tin, để khảo cứu và đánh giá vấn đề của thân chủ hay để đưa ra sự giúp đỡ cho thân chủ. Trong giới hạn của đề tài này, tác giả sử dụng vấn đàm như một công cụ để thu thập thông tin và chia sẻ thông tin. Khi sử dụng vấn đàm, tác giả thu được các thông tin mang tính chiều sâu như: Các dữ kiện liên quan đến các vấn đề, những rào cản trong đời sống và những nhu cầu cần được hỗ trợ của nhóm phụ nữ nông thông có chống nhiễm HIV/AIDS… cũng như để tìm hiểu về các mối quan hệ, các nguồn lực trợ giúp cho họ. Kỹ năng thấu cảm Tác giả vận dụng một số kỹ năng tham vấn trong quá trình làm việc với thân chủ như: Kỹ năng thấu cảm (giúp NVXH thấu hiểu thân chủ, tạo dựng được mối quan hệ gần gũi với thân chủ và tìm thấy ở thân chủ những sức mạnh tiềm ẩn), kỹ năng lắng nghe tích cực (khuyến khích thân chủ chia sẻ và giãi bày tâm sự của họ), kỹ năng đặt câu hỏi (đây là kỹ năng vô cùng quan trọng, đặt câu hỏi phù hợp với trạng thái tâm lý của thân chủ, sử dụng những câu hỏi gián tiếp để tránh cho thân chủ có cảm giác bị tra vấn chuyện riêng tư).
Mục đích của tham vấn là giúp những người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS tăng cường khả năng tự ứng phó với những hoàn cảnh khó khăn ở hiện tại và tương lai. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm công cụ 1. HIV/AIDS * Khái niệm HIV, AIDS Theo cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam – Bộ y tế về chăm sóc sức HIV/AIDS tại cộng đồng thì HIV, AIDS được định nghĩa như sau: - Khái niệm HIV: HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human immunodeficiency Virus” dịch ra tiếng Việt: Vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh.
HIV thuộc nhóm Lentivirus, và giống như mọi virus thuộc tuýp này, nó sẽ tấn công hệ miễn dịch của con người. Lentivirus lại thuộc vào 1 nhóm virus lớn hơn gọi là Retrovirus. Lentivirus có nghĩa là virus chậm cần có nhiều thời gian để gây ra tác dụng có hại cho cơ thể. HIV là 1 virus có tính thay đổi cao, đột biến dễ dàng.
Điều này có nghĩa là ngay trong cơ thể của người bị nhiễm cũng có nhiều chủng HIV khác nhau. Dựa trên những điểm tương tự về di truyền, ta có thể phân loại vô số các chủng virus khác nhau đó thành từng tuýp, nhóm và phân tuýp. Có 2 tuýp HIV là: HIV-1 và HIV-2.Cả hai đều gây bệnh cho người. Cả 2 tuýp này đều có thể lây truyền qua quan hệ tình dục, qua đường máu, và từ mẹ sang con.
Cả 2 tuýp này dường như đều gây bệnh cảnh lâm sàng AIDS khá giống nhau nên rất khó để mà phân biệt. Tuy nhiên, HIV-2 lại không dễ lây như HIV-1, và thời gian kể từ lúc mới bắt đầu nhiễm cho đến khi xuất hiện bệnh thường dài hơn. Nhưng trên toàn thế giới hiện nay, HIV-1 chính là nhóm gây đại dịch AIDS, và khi nói nhiễm HIV mà không kèm theo tuýp, tức là đang nói tới HIV-1.