CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực KH - CN nói riêng là tài sản quí báu của các quốc gia, là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân. Do vậy, đây là chủ đề thu hút sự quan tâm của các học giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Điều này thể hiện rất rõ ở các kết quả nghiên cứu của các đề tài nghiên cứu các cấp, luận án, sách, tạp chí. đã được công bố.
Có thể nhận thấy những nội dung và những đóng góp của các tác giả trong nước và ngoài nước ở một số công trình nổi bật sau: 1. Những nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực Từ cuối thế kỷ 18, A.Smith (1776) với công trình “The Wealth of Nation” (Sự giàu có của dân tộc) đã nghiên cứu toàn diện về những phạm trù kinh tế cơ bản dưới chủ nghĩa tư bản. Theo tác giả, con người được giáo dục, đào tạo là nguyên nhân căn bản làm tăng sự giàu có của quốc gia. Vì vậy, “năng lực hữu ích và học được của tất cả mọi thành viên của xã hội” là một bộ phận của khái niệm “vốn cố định”.
Nhóm tác giả Edward F. Denison (1985) [144] với công trình “Trends in American Economic Growth, 1929 - 1982” (Xu hướng tăng trưởng kinh tế Mỹ, 1929 - 1982), với quan điểm cho rằng “vốn con người” là quan trọng nhất, cùng con số thống kê đầu vào do lao động đóng góp chiếm tới 47%, trong đó do tăng trình độ giáo dục đối với nguồn nhân lực đã chiếm tới 13%, đã có bằng chứng đáng tin cậy để chứng minh sự tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ trong hơn 50 năm là phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nhân lực. Vì vậy, các quốc gia cần xây dựng các chính sách để phát triển nguồn nhân lực. Tác giả Kaufman Daniel (1998)[148] với “A mode of Human Capital Production and Evidence from LDCs, Word development” (Phát triển sản xuất 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com từ nguồn nhân lực và bằng chứng từ các nước kém phát triển), đã đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực.
Theo công trình này, phát triểnnguồn nhân lực là một phạm trù nằm trong tổng thể quá trình thuộc về sự nghiệp phát triển con người. Vì vậy, vai trò của Nhà nước cần phải xây dựng các cơ chế, chính sách tổng thể để phát triển con người một cách toàn diện. Nhóm tác giả Kristine Sydhagen và Peter Cunningham (2007) với công trình “Human Resource Development International”[149](Phát triển nguồn nhân lực quốc tế) và Abdullsh Haslinda (2009) với “Definition of HRD: Key Concepts from a National and International Context”[142](Những định nghĩa về nguồn nhân lực: Khái niệm cơ bản từ bối cảnh quốc gia và quốc tế) đã tập trung làm rõ khái niệm, mục đích và chức năng của phát triển nguồn nhân lực. Các tác giả đã tổng hợp lý thuyết và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi, góc độ khác nhau trong từng quốc gia nói riêng và qui mô toàn thế giới nói chung.
Habib trong công trình nghiên cứu của mình, có tên“The role of developing countries governments in human resources development (HRD) programs: The Egyptian experience” (2012)[153], (Vai trò của chính phủ của các quốc gia đang phát triển trong những chương trình phát triển nguồn nhân lực: Kinh nghiệm của Ai Cập), tập trung phân tích các kinh nghiệm liên quan đến phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 1999 - 2009 ở Ai Cập mà trước hết, tác giả khẳng định rằng nguồn nhân lực có ý nghĩa biệt quan trọng đối với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế cũng như đối với quá trình nâng cao mức sống ở bất cứ quốc gia nào. Khi phân tích các kinh nghiệm liên quan đến phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 1999 - 2009 ở Ai Cập, N. Habib đã khẳng định sự cần thiết phát triển một lực lượng khoa học công nghệ tiến bộ để xây dựng đất nước của họ và kết luận vai trò của Nhà nước trong quá trình phát triển này là không cần phải bàn cãi. Theo đó, tác giả quan niệm rằng chính phủ Ai Cập và các nước đang phát triển cần chú trọng đầu tư vào quá trình đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng những yêu cầu về tính linh hoạt, tính chuyên nghiệp và các kĩ năng cần có của công việc trong xã hội hiện đại.
Tác giả nhấn mạnh rằng sự hiểu biết một cách thấu đáo về những yêu cầu cũng như điểm hạn 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chế riêng của từng đất nước sẽ mang tính quyết định đối với mức độ thành công của các chương trình phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Thêm vào đó, mức độ thành công còn phụ thuộc mật thiết vào sự quản lý, điều hành hiệu quả của Nhà nước. Điều này đòi hỏi các tổ chức, cơ quan trong bộ máy nhà nước phối hợp chặt chẽ trên cơ sở hợp pháp và đúng quy tắc khi thực hiện các hoạt động có liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực. Junko Imanishi trong bài viết “Công dân toàn cầu”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI, Hà Nội (2003) đã nhấn mạnh sự ảnh hưởng của toàn cầu hóa tới số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực.
Theo bài viết này, các quốc gia khi xây dựng chính sách về nguồn nhân lực cần quan tâm đặc biệt tới đặc điểm này, nguồn nhân lực cần được đào tạo để thích nghi với sự thay đổi, sự cạnh tranh trong môi trường đa văn hóa. Cũng trong kỷ yếu, với tham luận có tên “Tăng cường phát triển nguồn nhân lực thông qua kinh nghiệm cộng tác học tập ở bậc giáo dục đại học”, Leona Little Soldier cho rằng giáo dục ở bậc đại học là yếu tố quyết định để có chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập của thế giới. Ở Việt Nam, đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực, tiêu biểu như: Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (1996)[130], cuốn sách đã giới thiệu khái quát về vai trò của nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường và kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở khía cạnh phát triển giáo dục của một số nước trên thế giới. Đây sẽ là những kinh nghiệm quý báu để Nhà nước Việt Nam vận dụng, xây dựng các chính sách phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực thúc đẩy KT- XH phát triển.
Nguyễn Hữu Dũng (2003)[34], đã phân tích một cách khá rõ nét về thực trạng phát triển và phân bố, sử dụng nguồn lực con người ở Việt Nam, trên cơ sở NNL chung, với một số những tiêu chí nhất định. Việc khai thác hiệu quả nguồn lực con người được đánh giá trên bình diện quốc gia, trên cơ sở một số chỉ tiêu như số người làm việc trong nền kinh tế quốc dân, hệ số co giãn việc làm trong nền kinh tế, mức tiền công bình quân giờ theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thất nghiệp thành thị, mối quan hệ giữa tiền lương với doanh thu, nộp ngân sách và lợi nhuận. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp phân bố và sử dụng NNL, phát triển NNL một cách hợp lý. Đặc biệt, tác giả có đề cập đến một số chính sách Nhà nước cần xây dựng mang tính định hướng cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người đến năm 2010.
Tuy nhiên, các chính sách chưa được xem xét theo đặc trưng các ngành khác nhau. Lê Du Phong (chủ biên - 2006)[104], tác giả đã làm rõ: Khái niệm các nguồn lực và động lực phát triển trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, cũng như vai trò, vị trí của nguồn lực, từng động lực đối với sự phát triển. Mặt khác, tác giả cũng đặc biệt lưu tâm đến những đòi hỏi, những yêu cầu cần phải bảo đảm trong việc huy động, phân bố sử dụng các nguồn lực và tạo ra các động lực trong thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Các tác giả trình bày rõ thực trạng các nguồn lực của nước ta hiện nay, đặc biệt đã phân tích tương đối kỹ lưỡng, có hệ thống thực trạng phân bổ, sử dụng các nguồn lực cũng như các động lực phục vụ cho sự phát triển KT-XH ở nước ta suốt thời gian đổi mới vừa qua.
Tác giả đã phân tích một cách sát thực những ưu điểm cũng như những hạn chế của Việt Nam trong việc huy động và sử dụng nguồn lực và tạo ra động lực cho sự phát triển; đề xuất một cơ chế, chính sách cho mô hình kinh tế mới: nền KTTT định hướng XHCN. Trên cơ sở dự báo xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới và nền kinh tế nước ta đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, tác giả đã đưa ra nhiều giải pháp và chính sách mạnh mẽ, táo bạo, song có cơ sở khoa học với hy vọng sẽ giúp huy động được nhiều nguồn lực hơn, phân bổ một cách hợp lý hơn và sử dụng ngày càng có hiệu quả hơn các nguồn lực đã có, cũng như tạo ra được các động lực ngày càng mạng mẽ hơn để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân (đồng chủ biên – 2004)[101], đã đề cập đến bài toán quản lý nguồn nhân lực trong cơ chế thị trường ở Việt Nam. Các tác giả phân tích các yếu tố tác động đến quản lý nguồn nhân lực như toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế, KH - CN…, phân tích hiện trạng nguồn nhân lực nước ta, các chính sách Nhà nước đã ban hành, hiện trạng quản lý nguồn nhân lực trong các loại hình tổ chức: hành chính nhà nước, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh; từ đó 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đề xuất các mô hình, chính sách và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực của Nhà nước.
Công trình có ý nghĩa quan trọng để Nhà nước ta quản lý hiệu quả nguồn nhân lực Việt Nam, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN. Công trình tuy chưa đi sâu nghiên cứu về nguồn nhân lực KH - CN nhưng tác giả luận án vẫn có thể kế thừa để tìm các giải pháp phát triển cho nguồn nhân lực KH - CN ở Việt Nam.