Luận án tiến sĩ vai trò của nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở việt nam

Nghiên cứu vai trò của nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ tại Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

202
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

2. CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

2.1. Phát triển nguồn nhân lực KH&CN trong cơ chế thị trường

2.2. Đặc điểm, vai trò của nguồn nhân lực khoa học – công nghệ

2.3. Những ưu việt, khuyết tật của cơ chế thị trường trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN

2.4. Vai trò Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ trong kinh tế thị trường

2.4.1. Tính tất yếu can thiệp của nhà nước

2.4.2. Nội dung thực hiện vai trò của nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN

2.4.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện vai trò của nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN

2.4.4. Tiêu chí đánh giá vai trò nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN

2.4.5. Kinh nghiệm thực hiện vai trò của nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN ở một số nước trên thế giới

2.4.6. Kinh nghiệm tạo lập môi trường phát triển nguồn nhân lực KH-CN

2.4.7. Kinh nghiệm xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực KH-CN

2.4.8. Kinh nghiệm xây dựng các chính sách phát triển nguồn nhân lực KH-CN

2.4.9. Những bài học rút ra cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM

3.1. Tình hình nguồn nhân lực KH-CN ở Việt Nam trong những năm qua

3.1.1. Số lượng cán bộ KH-CN

3.1.2. Chất lượng nhân lực KH-CN

3.1.3. Cơ cấu nhân lực KH-CN

3.2. Tình hình thực hiện vai trò Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN ở Việt Nam

3.2.1. Tạo lập môi trường phát triển nguồn nhân lực KH-CN

3.2.2. Xây dựng và thực thi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực KH-CN

3.2.3. Các chính sách hỗ trợ, phát triển nguồn nhân lực KH-CN

3.2.4. Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm

3.2.5. Đánh giá vai trò nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN ở nước ta

3.2.5.1. Mức độ hoàn thiện của môi trường phát triển nguồn nhân lực KH-CN
3.2.5.2. Sự phù hợp của chiến lược, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực KH-CN
3.2.5.3. Đánh giá các chính sách phát triển và việc tổ chức thực hiện
3.2.5.4. Hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
3.2.5.5. Kết quả phát triển của nguồn nhân lực KH-CN

4. CHƯƠNG 4: NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN THỰC HIỆN ĐÚNG VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM

4.1. Bối cảnh mới ảnh hưởng đến vai trò nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ

4.1.1. Bối cảnh quốc tế

4.1.2. Những nhân tố trong nước

4.2. Định hướng phát triển khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực KH-CN của Đảng và Nhà nước Việt Nam

4.3. Những quan điểm cơ bản thực hiện đúng vai trò của nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN

4.3.1. Phát triển nguồn nhân lực KH-CN phải kết hợp sức mạnh nhà nước với sức mạnh của thị trường

4.3.2. Tạo lập những điều kiện phát triển nguồn nhân lực KH-CN là nhiệm vụ căn bản, lâu dài

4.3.3. Khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực hiện vai trò Nhà nước đối với nguồn nhân lực KH-CN là yêu cầu cấp thiết trước mắt

4.3.4. Thực hiện vai trò của Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN phải đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

4.4. Những giải pháp thực hiện đúng vai trò Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ

4.4.1. Nhóm giải pháp định vị vai trò Nhà nước và vai trò của thị trường trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN

4.4.2. Nhóm các giải pháp tạo lập nền tảng kinh tế - xã hội cho phát triển nguồn nhân lực KH-CN

4.4.3. Nhóm giải pháp khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực hiện vai trò nhà nước đối với nguồn nhân lực KH-CN hiện nay

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan vai trò nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH CN Việt Nam

Vai trò của nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ (KH-CN) tại Việt Nam là một chủ đề quan trọng, được nhiều nghiên cứu và luận án tiến sĩ tập trung phân tích. Nguồn nhân lực KH-CN được xem là bộ phận tinh túy, có tính đại diện cho trình độ và chất lượng nguồn nhân lực quốc gia, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Nhà nước không chỉ là người hoạch định chiến lược, chính sách mà còn là người tạo lập môi trường pháp lý, tổ chức quản lý và giám sát việc phát triển nguồn nhân lực KH-CN. Theo nghiên cứu của Dương Quỳnh Hoa (2017), mặc dù kinh tế thị trường có vai trò quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN, nhưng do những khuyết tật của cơ chế thị trường, nhà nước phải can thiệp để khắc phục những hạn chế, đảm bảo phát triển bền vững nguồn nhân lực này. Việc phát triển nguồn nhân lực KH-CN không chỉ dừng lại ở số lượng mà còn phải nâng cao chất lượng, cơ cấu hợp lý và sử dụng hiệu quả, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức tại Việt Nam.

1.1. Khái niệm và đặc điểm phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ

Nguồn nhân lực KH-CN là lực lượng lao động có trình độ, kỹ năng chuyên môn trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực hỗ trợ. Theo OECD và UNESCO, nguồn nhân lực KH-CN được xác định dựa trên trình độ đào tạo và lĩnh vực công tác. Ở Việt Nam, nguồn nhân lực KH-CN được phân thành các nhóm như nhân lực quản lý KH-CN, nhân lực nghiên cứu, nhân lực trong doanh nghiệp và nhân lực tiềm năng trong xã hội. Đặc điểm của nguồn nhân lực KH-CN là tính chuyên môn cao, khả năng sáng tạo và ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn sản xuất và đời sống. Phát triển nguồn nhân lực KH-CN đòi hỏi sự phối hợp giữa đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng và chính sách sử dụng hiệu quả.

1.2. Vai trò quan trọng của nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH CN

Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong việc tạo lập môi trường pháp lý, hoạch định chiến lược, xây dựng và thực thi các chính sách phát triển nguồn nhân lực KH-CN. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, nhà nước không thể phó mặc cho thị trường mà phải can thiệp để khắc phục những hạn chế như thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, cơ cấu nhân lực chưa hợp lý, và các chính sách chưa đồng bộ. Nhà nước cũng chịu trách nhiệm trong việc đầu tư, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, đào tạo và bồi dưỡng nhân lực KH-CN, đồng thời giám sát, kiểm tra việc thực hiện các chính sách nhằm đảm bảo hiệu quả và công bằng.

II. Những thách thức và hạn chế trong vai trò nhà nước phát triển nhân lực KH CN Việt Nam

Mặc dù nhà nước đã có nhiều chính sách và chiến lược phát triển nguồn nhân lực KH-CN, thực tiễn cho thấy còn nhiều hạn chế và thách thức cần khắc phục. Môi trường phát triển nguồn nhân lực KH-CN chưa thật sự phù hợp với yêu cầu thực tiễn, hệ thống luật pháp và chính sách còn chồng chéo, thiếu đồng bộ và hiệu lực. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực nhân lực KH-CN còn nhiều yếu kém, dẫn đến phát triển nhân lực thiếu về số lượng, yếu về chất lượng và cơ cấu không hợp lý. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sáng tạo, phát minh khoa học và sự phát triển bền vững của khoa học công nghệ Việt Nam. Các thách thức này đòi hỏi nhà nước phải đổi mới cơ chế quản lý, hoàn thiện chính sách và tăng cường năng lực quản lý để phát huy tối đa vai trò của mình.

2.1. Hạn chế trong môi trường pháp lý và chính sách phát triển nhân lực KH CN

Môi trường pháp lý hiện nay còn nhiều bất cập như các văn bản pháp luật chưa thống nhất, có sự chồng chéo và thiếu tính khả thi. Các chính sách phát triển nguồn nhân lực KH-CN chưa được đồng bộ, chưa tạo được động lực mạnh mẽ cho đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao. Việc thiếu các chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, cũng như chưa có cơ chế khuyến khích sáng tạo khoa học, làm giảm sức hấp dẫn của ngành KH-CN đối với nhân lực trẻ và tài năng.

2.2. Thách thức trong quản lý nhà nước và sử dụng nguồn nhân lực KH CN

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực nhân lực KH-CN còn nhiều bất cập như thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan, năng lực quản lý hạn chế, và thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả. Việc sử dụng nhân lực KH-CN chưa hợp lý, chưa phát huy được hết năng lực sáng tạo và chuyên môn của đội ngũ. Ngoài ra, chính sách đãi ngộ chưa đủ hấp dẫn, dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám và khó khăn trong việc thu hút nhân tài trong nước và từ nước ngoài.

III. Phương pháp và giải pháp chính nhà nước áp dụng phát triển nguồn nhân lực KH CN hiệu quả

Để phát triển nguồn nhân lực KH-CN một cách hiệu quả, nhà nước cần áp dụng các phương pháp và giải pháp đồng bộ, bao gồm tạo lập môi trường phát triển thuận lợi, hoạch định chiến lược phát triển nguồn nhân lực KH-CN, xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực KH-CN, cũng như tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Việc kết hợp sức mạnh nhà nước với sức mạnh thị trường là yếu tố then chốt để phát triển nguồn nhân lực KH-CN bền vững và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

3.1. Tạo lập môi trường pháp lý và chính sách phát triển nguồn nhân lực KH CN

Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách phát triển nguồn nhân lực KH-CN theo hướng đồng bộ, minh bạch và khả thi. Cần xây dựng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ tài chính, khuyến khích nghiên cứu và sáng tạo, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho đào tạo và phát triển kỹ năng chuyên môn. Môi trường phát triển phải đảm bảo sự công bằng, khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN.

3.2. Hoạch định chiến lược và kế hoạch phát triển nguồn nhân lực KH CN

Việc xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển nguồn nhân lực KH-CN phải dựa trên phân tích thực trạng, dự báo nhu cầu và xu hướng phát triển khoa học công nghệ. Chiến lược cần xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, các nhóm đối tượng ưu tiên và các giải pháp cụ thể để phát triển nguồn nhân lực KH-CN cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Đồng thời, cần có cơ chế đánh giá, điều chỉnh chiến lược phù hợp với thực tiễn và bối cảnh quốc tế.

3.3. Kiểm tra giám sát và xử lý vi phạm trong phát triển nguồn nhân lực KH CN

Nhà nước cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách phát triển nguồn nhân lực KH-CN nhằm đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả. Cần xây dựng các tiêu chí đánh giá rõ ràng, minh bạch và có cơ chế xử lý nghiêm các vi phạm, sai sót trong quản lý và sử dụng nguồn nhân lực KH-CN. Việc này giúp nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan, đồng thời tạo niềm tin và động lực cho sự phát triển bền vững.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về vai trò nhà nước trong phát triển nhân lực KH CN

Thực tiễn phát triển nguồn nhân lực KH-CN tại Việt Nam trong những năm qua đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực nhờ sự quan tâm và can thiệp của nhà nước. Số lượng và chất lượng nhân lực KH-CN đã được nâng lên, đóng góp quan trọng vào sự phát triển khoa học công nghệ và kinh tế xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển, cơ cấu nhân lực chưa hợp lý và chưa phát huy tối đa năng lực sáng tạo. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc hoàn thiện vai trò của nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN là yếu tố quyết định để nâng cao hiệu quả và bền vững của quá trình này.

4.1. Kết quả phát triển nguồn nhân lực KH CN tại Việt Nam qua các giai đoạn

Theo số liệu thống kê và các nghiên cứu, nguồn nhân lực KH-CN Việt Nam đã có sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng trong giai đoạn 2000-2015. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu và phát triển nhân lực KH-CN, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp. Các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp đã tăng cường hợp tác, tạo điều kiện cho nhân lực KH-CN phát huy năng lực sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới.

4.2. Ứng dụng các chính sách nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH CN

Các chính sách của nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ và sử dụng nhân lực KH-CN đã được triển khai tại nhiều địa phương và ngành nghề. Việc hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu khoa học, khuyến khích sáng tạo và phát triển kỹ năng nghề nghiệp đã tạo động lực cho nhân lực KH-CN phát triển. Tuy nhiên, việc thực thi chính sách còn gặp khó khăn do hạn chế về nguồn lực, năng lực quản lý và sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan.

V. Kết luận và định hướng tương lai vai trò nhà nước trong phát triển nhân lực KH CN Việt Nam

Vai trò của nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH-CN tại Việt Nam là không thể thay thế và ngày càng quan trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức. Để phát huy tối đa vai trò này, nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, tăng cường năng lực quản lý và phối hợp liên ngành. Đồng thời, cần kết hợp hài hòa giữa sức mạnh nhà nước và sức mạnh thị trường, tạo môi trường thuận lợi cho đào tạo, nghiên cứu, sáng tạo và sử dụng nhân lực KH-CN. Định hướng tương lai là phát triển nguồn nhân lực KH-CN chất lượng cao, có khả năng sáng tạo và thích ứng nhanh với sự thay đổi của khoa học công nghệ và thị trường lao động toàn cầu.

5.1. Quan điểm cơ bản thực hiện đúng vai trò nhà nước trong phát triển nhân lực KH CN

Phát triển nguồn nhân lực KH-CN phải kết hợp sức mạnh nhà nước với sức mạnh thị trường, trong đó nhà nước giữ vai trò định hướng, hỗ trợ và điều tiết. Nhà nước cần tạo lập môi trường pháp lý thông thoáng, chính sách đồng bộ và công bằng, đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập trong quản lý và sử dụng nhân lực KH-CN. Việc phát triển nguồn nhân lực KH-CN là nhiệm vụ căn bản, lâu dài, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành, địa phương và các tổ chức xã hội.

5.2. Giải pháp nâng cao vai trò nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực KH CN thời gian tới

Các giải pháp bao gồm: hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách phát triển nguồn nhân lực KH-CN; tăng cường đầu tư cho giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học; xây dựng cơ chế đãi ngộ, thu hút và giữ chân nhân tài; nâng cao năng lực quản lý nhà nước và phối hợp liên ngành; thúc đẩy hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu; phát triển hạ tầng khoa học công nghệ và môi trường làm việc thuận lợi cho nhân lực KH-CN phát triển sáng tạo.

02/09/2025
Luận án tiến sĩ vai trò của nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực KH - CN nói riêng là tài sản quí báu của các quốc gia, là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân. Do vậy, đây là chủ đề thu hút sự quan tâm của các học giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Điều này thể hiện rất rõ ở các kết quả nghiên cứu của các đề tài nghiên cứu các cấp, luận án, sách, tạp chí. đã được công bố.

Có thể nhận thấy những nội dung và những đóng góp của các tác giả trong nước và ngoài nước ở một số công trình nổi bật sau: 1. Những nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực Từ cuối thế kỷ 18, A.Smith (1776) với công trình “The Wealth of Nation” (Sự giàu có của dân tộc) đã nghiên cứu toàn diện về những phạm trù kinh tế cơ bản dưới chủ nghĩa tư bản. Theo tác giả, con người được giáo dục, đào tạo là nguyên nhân căn bản làm tăng sự giàu có của quốc gia. Vì vậy, “năng lực hữu ích và học được của tất cả mọi thành viên của xã hội” là một bộ phận của khái niệm “vốn cố định”.

Nhóm tác giả Edward F. Denison (1985) [144] với công trình “Trends in American Economic Growth, 1929 - 1982” (Xu hướng tăng trưởng kinh tế Mỹ, 1929 - 1982), với quan điểm cho rằng “vốn con người” là quan trọng nhất, cùng con số thống kê đầu vào do lao động đóng góp chiếm tới 47%, trong đó do tăng trình độ giáo dục đối với nguồn nhân lực đã chiếm tới 13%, đã có bằng chứng đáng tin cậy để chứng minh sự tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ trong hơn 50 năm là phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nhân lực. Vì vậy, các quốc gia cần xây dựng các chính sách để phát triển nguồn nhân lực. Tác giả Kaufman Daniel (1998)[148] với “A mode of Human Capital Production and Evidence from LDCs, Word development” (Phát triển sản xuất 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com từ nguồn nhân lực và bằng chứng từ các nước kém phát triển), đã đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực.

Theo công trình này, phát triểnnguồn nhân lực là một phạm trù nằm trong tổng thể quá trình thuộc về sự nghiệp phát triển con người. Vì vậy, vai trò của Nhà nước cần phải xây dựng các cơ chế, chính sách tổng thể để phát triển con người một cách toàn diện. Nhóm tác giả Kristine Sydhagen và Peter Cunningham (2007) với công trình “Human Resource Development International”[149](Phát triển nguồn nhân lực quốc tế) và Abdullsh Haslinda (2009) với “Definition of HRD: Key Concepts from a National and International Context”[142](Những định nghĩa về nguồn nhân lực: Khái niệm cơ bản từ bối cảnh quốc gia và quốc tế) đã tập trung làm rõ khái niệm, mục đích và chức năng của phát triển nguồn nhân lực. Các tác giả đã tổng hợp lý thuyết và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi, góc độ khác nhau trong từng quốc gia nói riêng và qui mô toàn thế giới nói chung.

Habib trong công trình nghiên cứu của mình, có tên“The role of developing countries governments in human resources development (HRD) programs: The Egyptian experience” (2012)[153], (Vai trò của chính phủ của các quốc gia đang phát triển trong những chương trình phát triển nguồn nhân lực: Kinh nghiệm của Ai Cập), tập trung phân tích các kinh nghiệm liên quan đến phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 1999 - 2009 ở Ai Cập mà trước hết, tác giả khẳng định rằng nguồn nhân lực có ý nghĩa biệt quan trọng đối với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế cũng như đối với quá trình nâng cao mức sống ở bất cứ quốc gia nào. Khi phân tích các kinh nghiệm liên quan đến phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 1999 - 2009 ở Ai Cập, N. Habib đã khẳng định sự cần thiết phát triển một lực lượng khoa học công nghệ tiến bộ để xây dựng đất nước của họ và kết luận vai trò của Nhà nước trong quá trình phát triển này là không cần phải bàn cãi. Theo đó, tác giả quan niệm rằng chính phủ Ai Cập và các nước đang phát triển cần chú trọng đầu tư vào quá trình đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng những yêu cầu về tính linh hoạt, tính chuyên nghiệp và các kĩ năng cần có của công việc trong xã hội hiện đại.

Tác giả nhấn mạnh rằng sự hiểu biết một cách thấu đáo về những yêu cầu cũng như điểm hạn 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chế riêng của từng đất nước sẽ mang tính quyết định đối với mức độ thành công của các chương trình phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Thêm vào đó, mức độ thành công còn phụ thuộc mật thiết vào sự quản lý, điều hành hiệu quả của Nhà nước. Điều này đòi hỏi các tổ chức, cơ quan trong bộ máy nhà nước phối hợp chặt chẽ trên cơ sở hợp pháp và đúng quy tắc khi thực hiện các hoạt động có liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực. Junko Imanishi trong bài viết “Công dân toàn cầu”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI, Hà Nội (2003) đã nhấn mạnh sự ảnh hưởng của toàn cầu hóa tới số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực.

Theo bài viết này, các quốc gia khi xây dựng chính sách về nguồn nhân lực cần quan tâm đặc biệt tới đặc điểm này, nguồn nhân lực cần được đào tạo để thích nghi với sự thay đổi, sự cạnh tranh trong môi trường đa văn hóa. Cũng trong kỷ yếu, với tham luận có tên “Tăng cường phát triển nguồn nhân lực thông qua kinh nghiệm cộng tác học tập ở bậc giáo dục đại học”, Leona Little Soldier cho rằng giáo dục ở bậc đại học là yếu tố quyết định để có chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập của thế giới. Ở Việt Nam, đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực, tiêu biểu như: Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (1996)[130], cuốn sách đã giới thiệu khái quát về vai trò của nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường và kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở khía cạnh phát triển giáo dục của một số nước trên thế giới. Đây sẽ là những kinh nghiệm quý báu để Nhà nước Việt Nam vận dụng, xây dựng các chính sách phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực thúc đẩy KT- XH phát triển.

Nguyễn Hữu Dũng (2003)[34], đã phân tích một cách khá rõ nét về thực trạng phát triển và phân bố, sử dụng nguồn lực con người ở Việt Nam, trên cơ sở NNL chung, với một số những tiêu chí nhất định. Việc khai thác hiệu quả nguồn lực con người được đánh giá trên bình diện quốc gia, trên cơ sở một số chỉ tiêu như số người làm việc trong nền kinh tế quốc dân, hệ số co giãn việc làm trong nền kinh tế, mức tiền công bình quân giờ theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thất nghiệp thành thị, mối quan hệ giữa tiền lương với doanh thu, nộp ngân sách và lợi nhuận. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp phân bố và sử dụng NNL, phát triển NNL một cách hợp lý. Đặc biệt, tác giả có đề cập đến một số chính sách Nhà nước cần xây dựng mang tính định hướng cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người đến năm 2010.

Tuy nhiên, các chính sách chưa được xem xét theo đặc trưng các ngành khác nhau. Lê Du Phong (chủ biên - 2006)[104], tác giả đã làm rõ: Khái niệm các nguồn lực và động lực phát triển trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, cũng như vai trò, vị trí của nguồn lực, từng động lực đối với sự phát triển. Mặt khác, tác giả cũng đặc biệt lưu tâm đến những đòi hỏi, những yêu cầu cần phải bảo đảm trong việc huy động, phân bố sử dụng các nguồn lực và tạo ra các động lực trong thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Các tác giả trình bày rõ thực trạng các nguồn lực của nước ta hiện nay, đặc biệt đã phân tích tương đối kỹ lưỡng, có hệ thống thực trạng phân bổ, sử dụng các nguồn lực cũng như các động lực phục vụ cho sự phát triển KT-XH ở nước ta suốt thời gian đổi mới vừa qua.

Tác giả đã phân tích một cách sát thực những ưu điểm cũng như những hạn chế của Việt Nam trong việc huy động và sử dụng nguồn lực và tạo ra động lực cho sự phát triển; đề xuất một cơ chế, chính sách cho mô hình kinh tế mới: nền KTTT định hướng XHCN. Trên cơ sở dự báo xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới và nền kinh tế nước ta đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, tác giả đã đưa ra nhiều giải pháp và chính sách mạnh mẽ, táo bạo, song có cơ sở khoa học với hy vọng sẽ giúp huy động được nhiều nguồn lực hơn, phân bổ một cách hợp lý hơn và sử dụng ngày càng có hiệu quả hơn các nguồn lực đã có, cũng như tạo ra được các động lực ngày càng mạng mẽ hơn để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân (đồng chủ biên – 2004)[101], đã đề cập đến bài toán quản lý nguồn nhân lực trong cơ chế thị trường ở Việt Nam. Các tác giả phân tích các yếu tố tác động đến quản lý nguồn nhân lực như toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế, KH - CN…, phân tích hiện trạng nguồn nhân lực nước ta, các chính sách Nhà nước đã ban hành, hiện trạng quản lý nguồn nhân lực trong các loại hình tổ chức: hành chính nhà nước, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh; từ đó 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đề xuất các mô hình, chính sách và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực của Nhà nước.

Công trình có ý nghĩa quan trọng để Nhà nước ta quản lý hiệu quả nguồn nhân lực Việt Nam, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN. Công trình tuy chưa đi sâu nghiên cứu về nguồn nhân lực KH - CN nhưng tác giả luận án vẫn có thể kế thừa để tìm các giải pháp phát triển cho nguồn nhân lực KH - CN ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ