phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án đƣợc chia thành 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu về vai trò nhà nƣớc trong phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về vai trò nhà nƣớc trong phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi 6 Ơ Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Thực trạng vai trò nhà nƣớc trong phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi ở Việt Nam Chƣơng 5: Giải pháp nâng cao vai trò nhà nƣớc trong phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi ở Việt Nam đến năm 2030. 7 Ơ CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ NHÀ NƢỚC TRONG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN SẢN PHẨM CHĂN NUÔI 1. Những tài liệu nghiên cứu liên quan đến phát triển công nghiệp chế biến đối với sản phẩm chăn nuôi Qua tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài cho thấy có một số công trình đã quan tâm nghiên cứu về phát triển CNCB SPCN. Để có thể kế thừa và hoàn thiện khung lý thuyết, luận án sẽ chia các nghiên cứu liên quan thành các nhóm nhƣ sau: 1.
Các nghiên cứu liên quan đến vai trò phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi Trong một nền kinh tế mà nông nghiệp là nghề chính của ngƣời dân thì các quốc gia đặt trọng tâm hơn vào công nghiệp hoá lĩnh vực chế biến nông sản để tạo điều kiện gắn kết giữa nông nghiệp và công nghiệp. Trong bối cảnh này, công nghiệp hoá đòi hỏi phải thành lập các ngành CNCB nông sản, sử dụng các nguyên liệu nông nghiệp sẵn có tại địa phƣơng, trong đó có CNCB SPCN. Các nƣớc đang phát triển từ lâu đã thúc đẩy quá trình chế biến giá trị gia tăng của các sản phẩm sơ cấp nhƣ một con đƣờng dẫn đến công nghiệp hoá (Seluhinga & Philip, 2021). CNCB nông sản không chỉ tạo thêm giá trị gia tăng mà còn tạo ra việc làm trực tiếp và gián tiếp, đặc biệt là ở nhiều khu vực đặc biệt để hấp thụ lực lƣợng lao động dƣ thừa.
Bằng số liệu đáng tin cậy, đóng góp của CNCB SPCN vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP), xoá đói giảm nghèo, tăng cƣờng xuất khẩu đã đƣợc thảo luận trong nghiên cứu của Suresh Neethirajan & cộng sự (2021). Hơn thế nữa, nghiên cứu này đã khẳng định một cách thuyết phục về đóng góp bằng tiền của lĩnh vực này, cũng nhƣ những thiệt hại về kinh tế và xã hội do không đầu tƣ vào lĩnh vực này và từ đó đƣa ra các kiến nghị với chính phủ để tăng nguồn lực phát triển cho lĩnh vực. Ngành chăn nuôi và CNCB SPCN ở các nƣớc đang phát triển cũng đóng 8 Ơ góp cung cấp nguồn lƣơng thực ổn định, việc làm và cơ hội tăng thu nhập (Serra & cộng sự, 2020). Thái Lan hiện nay là quốc gia đang phát triển, để nâng cao thu nhập bình quân đầu ngƣời thì phải nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nƣớc, muốn vậy thì cần phát triển nhóm ngành tiềm năng, trong đó có CNCB thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm từ SPCN (Sawangrat, 2020).
Bởi vì đây là lĩnh vực công nghiệp quan trọng đối với Thái Lan ở cấp độ cao. CNCB là ngành sử dụng nhiều lao động nhất, có giá trị đầu tƣ, giá trị gia tăng cao nhất và đƣợc đầu tƣ vào nghiên cứu và phát triển nhiều nhất trong số các lĩnh vực sản xuất khác nhau ở Thái Lan (Sawangrat, 2020). Loison (2020) cho rằng, quá trình chuyển đổi nông nghiệp thành công là một quá trình thống nhất. Và phát triển ngành chăn nuôi quy mô nhỏ, thể hiện bằng việc tăng cƣờng sản xuất và thƣơng mại hóa các SPCN là con đƣờng đóng góp vào sự thành công đó.
Mặc dù, việc thúc đẩy phát triển CNCB nông sản, trong đó có CNCB SPCN không phải là ý tƣởng ban đầu của chính phủ Thái Lan, nhƣng ngành đó lại đƣợc quảng bá với tên gọi “công nghiệp nông nghiệp” trong những năm 1980 (Jermsittiparsert & cộng sự, 2019). Nguyên nhân đằng sau sự thay đổi này là do CNCB nông sản đƣợc coi là ngành tạo ra lợi nhuận cao cho các nhà đầu tƣ ngành nông nghiệp, hỗ trợ phát triển nông thôn cũng nhƣ đƣa về nguồn thu ngoại tệ cho đất nƣớc. Đặc biệt, với hệ thống nhà máy chế biến trải rộng khắp đất nƣớc cùng với sự hỗ trợ của nhà nƣớc đã giảm thiểu vấn đề di cƣ từ nông thôn ra thành thị (Bhagwat & Sharma, 2007). Theo Owoo & Lambon-Quayefio (2018) mặc dù ngành CNCB SPCN ở Ghana bị chi phối bởi doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, nhƣng nó lại đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Ghana bởi nó tạo ra việc làm và thu nhập cho ngƣời dân, đặc biệt là công việc và thu nhập cho phụ nữ.
Các nghiên cứu khác cũng cho thấy đóng góp rõ ràng và vai trò quan trọng của CNCB đối với SPCN cho nền kinh tế các quốc gia (Fukase & Martin, 2018). Cụ thể, tại Sahel, SPCN qua chế biến có vai trò chính cho tăng trƣởng và hội nhập khu vực. SPCN chƣa và đã qua chế biến đóng góp khoảng 19% GDP của cả nƣớc ở Mali và là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ 3 sau vàng và 9 Ơ bông. Ở Kenya, SPCN chiếm giá trị thị trƣờng ƣớc tính 800 triệu đô la Mỹ, cung cấp 80% lƣợng thịt bò tiêu thụ hàng năm (Behnke & Muthami, 2011).
Ở Sudan, các hoạt động CNCB SPCN đã tạo ra giá trị 12,3 và 14,5 tỷ đô la Mỹ - tƣơng ứng với từ 23% đến 27% GDP năm 2009. Ở Ethiopia, hoạt động này cung cấp 80% kim ngạch xuất khẩu và lợi tức đầu tƣ từ 25% đến 30% mỗi năm (Behnke & Metaferia, 2011) trong khi ở Tây Nam Uganda, hoạt động chế biến mang lại lợi nhuận trên mỗi ha đất cao hơn 6,8 lần so với hệ thống trang trại (Ocaido & cộng sự 2009). Lý luận về tầm quan trọng của CNCB SPCN đã đƣợc trình bày thông qua nghiên cứu về các doanh nghiệp trong ngành thịt ở Serbia từ năm 2010-2012 (Mijic & cộng sự, 2014). Nghiên cứu này đã phân chia các doanh nghiệp thành 2 nhóm: các doanh nghiệp chăn nuôi và các công ty bảo quản và chế biến.
Kết quả quan sát chỉ ra rằng: lĩnh vực bảo quản và chế biến thịt ở Serbia đóng vai trò quan trọng trong ngành sản xuất nông nghiệp hơn bởi vì nó tích hợp các chủ thể tham gia vào các giai đoạn khác nhau trong chuỗi sản xuất thịt bao gồm sản xuất thức ăn chăn nuôi, chăn nuôi, chế biến và bán các sản phẩm từ thịt. Tác động của CNCB SPCN, cụ thể là chế biến sữa và các sản phẩm thịt từ trang trại ở Bỉ, Pháp, Đức và Anh tới kinh tế - xã hội của các trang trại, hộ gia đình và địa phƣơng cũng đã đƣợc nghiên cứu do một tổ chức của EU tài trợ (Revell & François, 2014). Các trang trại này đều có diện tích lớn hơn mức trung bình của cả nƣớc và hầu hết là dùng đển sản xuất nông nghiệp thông thƣờng. Nó đã phác thảo quy mô và sự phân bố của hoạt động CNCB SPCN ngay tại trang trại, để từ đó chỉ ra 2 vấn đề: (1) tác động của nó đến hoạt động kinh doanh nông nghiệp; thu nhập của hộ gia đình và đóng góp giải quyết việc làm ở nông thôn; (2) thái độ và hành vi mua hàng của ngƣời tiêu dùng đối với các sản phẩm này.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng chế biến chiếm một phần quan trọng và ngày càng tăng trong thu nhập của các hộ gia đình. Hay nói cách khác, chế biến tạo ra càng ngày càng nhiều giá trị tăng thêm so với chăn nuôi thuần tuý. Nghiên cứu cũng đƣa ra kết luận là thị trƣờng cho các sản phẩm này rất tiềm năng và cơ hội mở rộng lớn, các vấn đề cần lƣu ý là chiến lƣợc về giá cả, xúc tiến và phân phối sản phẩm. 10 Ơ Ngoài ra, nghiên cứu ở Mỹ của Saul & cộng sự (2014) chỉ ra rằng một cơ sở chế biến SPCN nằm trong vùng nông thôn (cụ thể là ở Palouse, Washington, nơi có dân số khoảng 1.000 ngƣời) thì có tác động kinh tế đáng kể đến nền kinh tế địa phƣơng.
Tuy nhiên, nếu một cơ sở chế biến SPCN đƣợc đầu tƣ phát triển và nằm ở những vùng đô thị lớn hơn (chẳng hạn nhƣ Lewiston, dân số hơn 30.000 ngƣời) thì tác động sẽ nhỏ hơn rất nhiều và không đáng kể so với nền kinh tế địa phƣơng. Đây là cơ sở để tham khảo nhằm có những chiến lƣợc phát triển CNCB SPCN phù hợp với từng địa phƣơng, vùng miền. Bên cạnh đó, CNCB SPCN đƣợc chứng minh là có đóng góp to lớn trong công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Thái Lan (Watanabe & cộng sự, 2009). Thực tế là, hầu hết ngƣời nghèo ở Thái Lan đều làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp.
Chính vì vậy việc phát triển của CNCB SPCN ở Thái Lan sẽ tác động đến việc giảm nghèo thông qua 2 kênh: (1) thu mua nông sản của nông dân và (2) tạo việc làm cho ngƣời nghèo tại các nhà máy chế biến. Với kênh thứ nhất, việc thu mua SPCN của doanh nghiệp chế biến góp phần tăng sản lƣợng nông nghiệp chăn nuôi hơn bất kỳ ngành nào khác. Việc thu mua SPCN đƣợc duy trì ổn định sẽ kích thích phát triển ngành chăn nuôi, từ đó dẫn đến thu nhập của ngƣời dân đƣợc cải thiện. Đối với kênh thứ hai, CNCB SPCN thu hút lƣợng lớn ngƣời nghèo nhất trong các ngành sản xuất, không chỉ vì quy mô của nó mà còn vì cƣờng độ lao động cao đặc biệt là về việc làm của ngƣời nghèo.
Ngoài ra, CNCB SPCN mang lại cơ hội việc làm lớn cho nông dân trong thời kỳ trái vụ. Các nghiên cứu liên quan đến điều kiện, nguồn lực phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi Nghiên cứu ở Cộng hoà Kazakhstan giai đoạn từ 2015-2019 đã đƣợc triển khai và đánh giá thực trạng CNCB SPCN (Kushebina & Kukhar, 2020).