Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hoạt động cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sacombank chi nhánh tỉnh Lâm Đồng Chương 3: Định hướng và giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sacombank chi nhánh tỉnh Lâm Đồng CHƢƠNG 1 6 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Hoạt động của ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế 1. Khái niệm, chức năng ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong các trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặt biệt là chính sách tiền tệ, do vậy ngân hàng là một kênh quan trọng trong việc thực thi chính sách của Chính phủ nhằm ổn định kinh tế. Khái niệm Ngân hàng thương mại được tiếp cận trên nhiều phương diện. Căn cứ vào các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại, Điều 20 Luật Các Tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”.
“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Căn cứ vào các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, có thể định nghĩa: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và 7 thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Chức năng của ngân hàng thương mại Trong sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, Ngân hàng là một yếu tố không thể thiếu bởi các chức năng cơ bản của nó là trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán, trung gian thanh toán. * Trung gian tài chính.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế: Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu (tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn). Các cá nhân và tổ chức thặng dư tạm thời trong chi tiêu (tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm). Sự tồn tại của hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với Ngân hàng và điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất nếu cả hai cùng có lợi. Khi đó sẽ hình thành nên mối quan hệ tài chính, mà có thể là quan hệ trực tiếp dưới hình thức tín dụng hoặc quan hệ cấp phát, hùn vốn và cũng có thể là quan hệ gián tiếp nếu trong quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do không phù hợp về qui mô, thời gian, không gian.
Với quan hệ gián tiếp đòi hỏi có sự tham gia của các trung gian tài chính mà với sự chuyên môn hóa họ có thể giảm chi phí giao dịch xuống, làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm từ đó mà khuyến khích được tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư và cũng khuyến khích đầu tư. Trung gian tài chính đã tập hợp 8 những người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy giải quyết được mâu thuẫn của quan hệ tài chính trực tiếp. Đồng thời do sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin thường được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị trường và Ngân hàng có năng lực để làm giảm đến mức thấp nhất những sai lệch đó. * Tạo phương tiện thanh toán Tiền -Vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán trong trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ, song khi nền sản xuất phát triển cao hơn, lượng phân phối qua lại ngày càng nhiều thì trong thanh toán bằng tiền mặt, vàng gặp nhiều khó khăn và Ngân hàng đã tạo phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ cho khách hàng.
Với những ưu điểm nhất định nó đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận. Ngoài ra giấy nhận nợ đó còn được thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy. Ngày nay giấy nhận nợ đã được phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như: Séc, kỳ phiếu. đã giúp cho việc thanh toán được diễn ra nhanh gọn và có hiệu quả hơn.
* Trung gian thanh toán: Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Thay mặt cho khách hàng, Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng thuận tiện và tiết kiệm chi phí, Ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng Séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu. Cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần.
Các 9 Ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán, công nghệ thanh toán qua Ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các Ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các Ngân hàng trên toàn thế giới. Với các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua Ngân hàng, biến Ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu. Các hoạt động cơ bản của NHTM Với vai trò trung gian tài chính, Ngân hàng thương mại thực hiện chuyển vốn từ người cho vay-người gửi tiết kiệm sang người đi vay-người đầu tư.
Vì vậy, các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại gồm có huy động vốn, tín dụng, đầu tư và các hoạt động khác. * Hoạt động huy động vốn Huy động vốn là hoạt động cơ bản đầu tiên của một ngân hàng thương mại.Ngân hàng thực hiện huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau.Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Khi bắt đầu hoạt động, ngân hàng thực hiện mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng đã huy động được lượng tiền nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư. Khi khả năng huy động tiền gửi bị hạn chế hay lượng tiền gửi không đáp ứng được nhu cầu chi trả, Ngân hàng thường vay mượn thêm.Ngân hàng thương mại có thể thực hiện vay của Ngân hàng Nhà nước, vay các tổ chức tín 1 dụng khác và vay trên thị trường vốn.Nghiệp vụ này được thực hiện chủ yếu nhằm giải quyết nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách của Ngân hàng thương mại.
Ngoài các hình thức huy động trên, ngân hàng thương mại còn thực hiện việc huy động vốn chủ sở hữu thông qua phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm… để mở rộng quy mô hoạt động, đổi mới trang thiết bị hoặc để đáp ứng nhu cầu gia tăng vốn của chủ do Ngân hàng Nhà nước quy định… Hình thức huy động này tuy không thường xuyên song giúp cho ngân hàng có được lượng vốn sở hữu lớn khi cần thiết. * Hoạt động tín dụng, đầu tư và các hoạt động trung gian khác Trên cơ sở lượng vốn huy động được, ngân hàng thương mại thực hiện các hoạt động tín dụng, một số hoạt động khác. Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chính, chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng.Trong nghiệp vụ này, ngân hàng chuyển giao tạm thời quyền sử dụng vốn cho bên đi vay, sau một khoảng thời gian nhất định bên đi vay phải hoàn trả cả gốc và lãi cho Ngân hàng. Ngân hàng đầu tư vào chứng khoán vì mục tiêu thanh khoản và đa dạng hóa tài sản.
Các loại chứng khoán mang lại thu nhập cho ngân hàng và có thể bán đi để gia tăng ngân quỹ khi cần thiết. Ngân hàng nắm giữ nhiều loại chứng khoán như chứng khoán Chính phủ, giấy nợ ngắn hạn của các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính… Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện các hoạt động khác như tham gia góp vốn với các tổ chức khác, cung cấp các dịch vụ liên quan như.Dịch vụ cho vay, dịch vụ nhận gửi, dịch vụ thanh toán, dịch vụ cho thuê tài chính, dịch vụ đầu tư tài chính, dịch vụ chuyển nhượng trái quyền, dịch vụ bảo lãnh. Khái quát về DN vừa và nhỏ 1. Khái niệm * Khái niệm DNV&N của một số nước trên thế giới Tiêu chí DNV&N thường là dựa vào qui mô sản xuất của doanh nghiệp.
Nhìn chung, các nước trên thế giới sử dụng hai nhóm tiêu thức phổ biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng để định nghĩa DNV&N. Tiêu chí định tính dựa trên đặc trưng cơ bản của các DNV&N như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp. Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nhóm tiêu thức này thường chỉ được dùng làm cơ sở tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng làm cơ sở để xác định quy mô doanh nghiệp.
Tiêu chí định lượng thường bao gồm các nhóm chỉ tiêu về: số lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận. Trong đó vốn và số lao động được áp dụng nhiều nhất làm tiêu chí xác định DNV&N.