Chương 1: Những vấn đề chung về vai trò của VKSND trong việc áp dụng BPNC tạm giam của CQĐT. Chương 2: Quy định của pháp luật TTHS về vai trò của VKSND trong việc áp dụng BPNC tạm giam của CQĐT tra và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật TTHS và nâng cao vai trò của VKSND trong việc áp dụng BPNC tạm giam của CQĐT tỉnh Hà Tĩnh. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA 1.
Khái niệm, đặc điểm về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam của Cơ quan điều tra 1. Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam của Cơ quan điều tra BPNC trong TTHS là một trong những chế định pháp lý tố tụng quan trọng được quy định tại trong Bộ luật TTHS. Hệ thống các BPNC theo BLTTHS năm 2003 bao gồm: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Trong số các biện pháp nêu trên tạm giam là BPNC mang tính nghiêm khắc nhất.
Xung quanh khái niệm về biện pháp tạm giam hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan điểm nhìn nhận tạm giam dưới một góc độ khác nhau nhất định. Theo giáo trình Luật TTHS Việt Nam của NXB Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014 thì: Tạm giam là BPNC trong TTHS do cơ quan THTT áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt trên hai năm tù và có những căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội [9, tr. Còn cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học” của Trường Đại học Luật Hà Nội. NXB Công an Nhân dân năm 1999 đã định nghĩa BPTG như 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sau: “Tạm giam là biện pháp cách ly bị can, bị cáo với xã hội trong thời gian nhất định nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở việc điều tra, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội của bị can, bị cáo đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử thi hành án được thuận lợi” [41, tr.
224] Tác giả Nguyễn Mai Bộ cho rằng: “Tạm giam là BPNC trong TTHS mà theo đó CQĐT, VKS, Tòa án trong những trường hợp nhất định có thể tước tự do đối với bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn tội phạm hoặc đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử” [7, tr. Theo Quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo văn bản hợp nhất số 13/VBHN-BCA ngày 07/4/2014 hợp nhất Nghị định quy chế về tạm giữ, tạm giam do Bộ Công an ban hành đã đưa ra khái niệm tạm giam như sau: Tạm giam là BPNC được quy định trong Bộ Luật TTHS do CQĐT, VKS hoặc Toà án áp dụng nhằm buộc những người có Lệnh tạm giam cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc đảm bảo thi hành án phạt tù hoặc án tử hình [5, Điều 1]. BLTTHS 2003 đưa ra khái niệm về BPTG: Tạm giam là BPNC trong TTHS do CQĐT, VKS, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù từ trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội [30, Điều 88]. Ta có thể hiểu “BPTG là BPNC trong TTHS nhằm buộc bị can, bị cáo vào nhà tạm giữ hoặc trại tạm giam trong một thời gian nhất định do người có thẩm quyền trong CQĐT, VKS, Tòa án áp dụng để ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, tạo thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án”.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy cách đưa ra các khái niệm khác nhau nhưng BPNC tạm giam có đặc điểm sau: - Đối tượng bị áp dụng là bị can, bị cáo - Chủ thể áp dụng là người có thẩm quyền trong CQĐT, Tòa án, VKS. - Mục đích nhằm ngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. - Căn cứ, thẩm quyền, trình tự thủ tục và thời hạn áp dụng được quy định chặt chẽ. Nhằm phát xác định sự thật vụ án, phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội, ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm, luật TTHS quy định cho các CQĐT, VKS, Tòa án được áp dụng một số biện pháp mang tính cưỡng chế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan THTT hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Do đó, để áp dụng biện pháp tạm giam đúng quy định của pháp luật, đòi hỏi cơ quan THTT, người THTT phải hiểu đầy đủ toàn diện về bản chất của BPTG. BPNC tạm giam được pháp luật quy định chặt chẽ từ căn cứ áp dụng, chủ thể áp dụng, đối tượng bị áp dụng, thời gian, thủ tục áp dụng cũng như quy định về thay đổi, hủy bỏ việc áp dụng BPTG. Tuy nhiên, không phải tất cả bị can, bị cáo đều bị áp dụng BPNC tạm giam mà tạm giam chỉ được áp dụng trong một số trường hợp nhất định và với những đối tượng cụ thể. Thực tế việc tạm giam làm hạn chế đi một số quyền công dân của người bị tạm giam, nhưng không phải là bị luật pháp tước bỏ hết các quyền công dân của người bị tạm giam.
Khi áp dụng BPTG, mục đích là phục vụ cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả cao. Là một BPNC nghiêm khắc nhất, nhưng tạm giam không phải là hình phạt tù vì hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước do Toà áp dụng không chỉ nhằm mục đích trừng trị 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người phạm tội mà còn nhằm cải tạo trở thành con người tốt có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội với hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh và phòng ngừa tội phạm. CQĐT là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng, tham gia vào quá trình điều tra vụ án để xác định sự thật khách quan của vụ án và trách nhiệm hình sự của người phạm tội, thực hiện nhiệm vụ theo quy định của BLTTHS khi giải quyết vụ án hình sự góp phần trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Pháp lệnh về tổ chức điều tra hình sự quy định: CQĐT tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa [43, Điều 3].
Theo quy định của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 thì hệ thống CQĐT bao gồm: - Trong Công an nhân dân có các CQĐT sau: + Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. + Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. - Trong Quân đội nhân dân có các CQĐT sau đây: + CQĐT hình sự Bộ Quốc phòng; CQĐT hình sự quân khu và tương đương; CQĐT hình sự khu vực; + Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng; Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương. - Ở VKSND tối cao có các CQĐT sau đây: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + CQĐT VKSND tối cao; + CQĐT VKS quân sự Trung ương.
Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, chúng ta có 6 hệ thống CQĐT đang tồn tại và hoạt động, được tổ chức trong lực lượng cảnh sát, an ninh, trong quân đội và VKSND Tối cao, có nhiều đầu mối khác nhau. Bên cạnh các CQĐT mang tính chuyên trách, pháp luật TTHS còn cho phép một số cơ quan khác cũng được quyền tham gia vào một số hoạt động điều tra: Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. Trong quá trình giải quyết VAHS, pháp luật TTHS đã quy định cho CQĐT có quyền áp dụng các biện pháp điều tra, có quyền ra một số quyết định cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của mình trong đó có quyền ra các quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc đề nghị áp dụng các BPNC khác nhằm hạn chế một số quyền của bị can, người bị nghi là thực hiện hành vi phạm tội nhằm phục vụ cho việc điều tra, thu thập chứng cứ, ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc tiêu hủy chứng cứ. Thẩm quyền áp dụng BPTG được quy định cho nhiều cơ quan với nhiều chủ thể khác nhau tùy thuộc vào các giai đoạn tố tụng đó là CQĐT, cơ quan Tòa án và VKS.
Việc áp dụng BPTG ngoài việc ngăn chặn không để bị can có điều kiện tiếp tục phạm tội thì còn không để bị can xóa bỏ dấu vết phạm tội, tiêu hủy chứng cứ, làm chứng cứ giả, thông cung giữa những người phạm tội với người làm chứng tạo điều kiện thuận lợi cho CQĐT có thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can vào bất cứ khi nào nếu thấy cần thiết mà không phải mất thời gian triệu tập nhiều lần, đồng thời giúp quản lý giám sát bị can được chặt chẽ. Với CQĐT việc áp dụng BPNC tạm giam chỉ được áp dụng đối với bị can (là người đã bị khởi tố về hình sự) và chỉ trong giai đoạn khởi tố - điều tra 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.