Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN TƯ PHÁP 1. Khái quát về quyền con người 1. Khái niệm, đặc trưng về quyền con người Quyền con người là một khái niệm tiến triển theo thời gian. Sự phát triển của nó “gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của các tôn giáo, tư tưởng, tập quán và pháp luật trong các giai đoạn lịch sử của nhân loại” [14, tr.
Trong thời kì cổ và trung đại, các giáo lý của một số tôn giáo lớn như Phật giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo đều đã chứa đựng những tư tưởng có ý nghĩa đạo đức về bình đẳng, hạnh phúc và tự do. Một số bộ luật cổ còn lưu giữ lại được như Bộ luật Hammurabi cổ đại (khoảng 1780 tr.CN), Bộ luật của Cyrus Đại đế (khoảng 550 tr.CN), Bộ luật Ashoka (khoảng 273-231 tr.CN),… đã đề cập đến việc bảo vệ các quyền lợi chính đáng của con người. Trong các tác phẩm của mình, các nhà tư tưởng có ảnh hưởng trong thời kì này như Aristotle, Platon, Khổng Tử, Mặc Tử,… đều đã đề cập đến những khía cạnh về sự bình đẳng, tự do và các quyền của con người. Tiếp theo, cho đến trước cách mạng tư sản, nhiều văn kiện như Đại Hiến chương Anh (Magna Carta, 1215), Bộ luật về Quyền của Anh (Bill of Rights, 1689),… đã chứa đựng những quy định nhằm bảo vệ nhân phẩm của con người – “chịu ảnh hưởng của các tư tưởng nhân văn trong các học thuyết tôn giáo” [14, tr.
Thời kỳ Khai sáng và cách mạng tư sản, tư tưởng về quyền con người đã đánh dấu một bước phát triển mới. Nhiều tư tưởng, học thuyết tiến bộ về chính trị – xã hội ra đời hoặc hồi sinh, nổi bật trong số đó là tư tưởng về quyền tự nhiên (natural rights) với một số học giả tiêu biểu như Thomas Hobbes, John 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Locke, Thomas Paine,… Họ cho rằng: “quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại” [14, tr. Điều này cũng có thể được hiểu rằng, các quyền con người “không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào” [12, tr. Cho nên, không một chủ thể nào, kể cả nhà nước có quyền ban phát hay tước bỏ các quyền gắn với con người này.
Ngược lại, các nhà tư tưởng về học thuyết quyền pháp lý (legal rights) với đại diện Edmund Burke và Jeremy Bentham lại cho rằng: “quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa” [12, tr. Những tư tưởng trong thời kì Khai sáng nêu trên đã có những tác động, ảnh hưởng to lớn đến các cuộc cách mạng tư sản – với ngọn cờ quyền con người nhằm chống lại xã hội phong kiến thần quyền. Sự ra đời của Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776), Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789), hay Bộ luật về Quyền của Mỹ (1791) đã khẳng định quyền con người như một chân lý tự nhiên rằng: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [15, tr.
“Con người sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do, bình đẳng về quyền lợi” [15, tr. Từ thế kỉ XIX cho đến nay, quyền con người càng trở nên phổ biến, được thừa nhận và tuân thủ bởi nhiều quốc gia trên thế giới, bất chấp sự khác biệt về thể chế chính trị, hệ tư tưởng, truyền thống văn hóa và pháp luật. Cùng với sự ra đời của những khái niệm khác có liên quan đến quyền con người như dân chủ, phát triển, hòa bình, an ninh,… làm cho “quyền con người trở thành một trong những khái niệm được đề cập, chấp nhận và cổ vũ một cách rộng khắp, thường xuyên và nồng nhiệt nhất hiện nay” [12, tr. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mặc dù có một quá trình phát triển lâu dài như đã trình bày ở trên, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về quyền con người, bởi đây là một phạm trù đa diện, đa ngành.
Với mỗi cách tiếp cận (luật học, chính trị học, triết học, văn hóa học, đạo đức, tôn giáo,…) ta lại có một định nghĩa hoặc khái niệm riêng. Năm 1994, theo một tài liệu của Liên hợp quốc cho thấy “có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố” [12, tr. Đầu tiên phải kể đến định nghĩa được đưa ra bởi Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc – định nghĩa này cũng thường được trích dẫn bởi nhiều nhà nghiên cứu, đó là: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [12, tr. TS Nguyễn Đăng Dung – một người có nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu trong lĩnh vực quyền con người lại đưa ra một định nghĩa như sau: Quyền con người là những quyền cơ bản nhất của con người, được có một cách tự nhiên, gắn bó mật thiết với con người – một động vật cao cấp có lý trí và có tình cảm, làm cho con người khác với các động vật khác, mà nhà nước thành lập với một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của mình là phải bảo vệ những quyền đó [4].
Từ hai định nghĩa nêu trên, có thể rút ra được một số khía cạnh chung về cách hiểu, nhận thức về quyền con người là: thứ nhất, quyền con người là những quyền cơ bản, gắn với cá nhân con người, xuất phát từ phẩm giá vốn có của họ mà không có bất kì sự phân biệt nào. Nhờ những quyền đó con người mới tồn tại và phát triển được bản thân trong đời sống cộng đồng; thứ hai, các quyền con người yêu cầu phải được pháp luật ghi nhận và bảo đảm – đây chính là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ các quyền con người, ở cả phạm vi quốc gia và quốc tế. Về các đặc trưng của quyền con người, theo cách hiểu hiện nay của luật nhân quyền quốc tế, quyền con người có bốn đặc trưng cơ bản, đó là: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhất, tính phổ biến (universal). Theo đặc trưng này, “quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại mà không có bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, tôn giáo, xuất thân,…” [12, tr.41] Tuy nhiên, sự bình đẳng ở đây không phải là cào bằng mức độ hưởng thụ, mà bình đẳng về tư cách chủ thể, và bình đẳng về cơ hội để thụ hưởng các quyền con người.
Thứ hai, tính không thể phân chia (indivisible). Đặc trưng này chỉ ra các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, không quyền nào được coi là có giá trị hơn quyền nào. Bất kì một sự tước bỏ hay hạn chế quyền con người nào đều sẽ gây ra những “tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người” [12, tr. Mặc dù vậy, trong những điều kiện, hoàn cảnh thực tế, tùy theo những yêu cầu cụ thể mà có những quyền được ưu tiên thực hiện.
Chẳng hạn như trong chiến tranh, bệnh dịch, hay đói nghèo thì các quyền như quyền sống, quyền về y tế, quyền về lương thực sẽ được ưu tiên thực hiện hơn các quyền con người khác. Thứ ba, tính không thể tước bỏ (inalienable). Về cơ bản, các quyền con người là các quyền nhân thân, nó gắn liền với các cá nhân, cho nên không một chủ thể nào, kể cả cơ quan nhà nước có thể tùy tiện tước đoạt hay giới hạn. Sự tước đoạt hay giới hạn phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt của pháp luật – được thừa nhận chung bởi các quốc gia trên thế giới.
Ví dụ như, trong tình trạng khẩn cấp quốc gia (state emergency) thì một số quyền con người có thể bị giới hạn, như quyền tự do đi lại, quyền hội họp, biểu tình,… hoặc khi một cá nhân vi phạm những tội ác nghiêm trọng nhất, quyền sống của cá nhân đó có thể sẽ bị tước đoạt (hình phạt tử hình). Thứ tư, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated & interdependent). Đặc trưng này nói lên rằng các quyền con người có mối liên hệ phụ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau: “Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác. Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặ gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác” [12, tr.
Cách thức ghi nhận các quyền con người Trong một nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa nhà nước và công dân là bình đẳng dựa trên cơ sở của pháp luật, và Hiến pháp – bản khế ước thể hiện sự đồng thuận của những người bị trị – đóng vai trò rất quan trọng. Các quyền con người, quyền công dân, thường là một phần trong các bản Hiến pháp. Chẳng hạn, Bộ luật về Quyền của Mỹ (Bill of Rights, 1791) chính là 10 Tu chính án Hiến pháp đầu tiên, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789) chính là một phần của Hiến pháp Pháp, hay Bộ luật về Quyền của Anh (Bill of Rights, 1689) là một nguồn của Hiến pháp Anh. Các bản Hiến pháp cổ điển này chủ yếu quy định các quyền dân sự và chính trị.
Ngày nay, các bản Hiến pháp hiện đại đã mở rộng phạm vi các quyền con người, ghi nhận thêm cả các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, và cả quyền của các nhóm yếu thế (chẳng hạn như phụ nữ, trẻ em, người thiểu số…).