Lời mở đầu của cuốn sách: East Asia: A new history, 1997. 2 Ravenhill, F 2002, 'A Three Bloc World? The New East Asian Regionalism', International Relations of the Asia-Pacific, vol. 3 East Asian Economic Group. 4 East Asian Economic Caucus.
5 Tác giả của bài tham luận “Tiền đề của Cộng đồng Châu Á” tại Hội thảo khoa học „Hƣớng tới Cộng đồng Châu Á : cơ hội và thách thức, Hà Nội 2005. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngoài các nƣớc nói trên, còn bao gồm các quốc gia khác nhƣ Australia, New Zealand và phần cực đông của Nga… Giáo sƣ Qiao Lingsheng6 cũng tham dự chia sẻ quan điểm này và nhấn mạnh thêm: “Cộng đồng cần thi hành chủ nghĩa khu vực mở không loại trừ các quốc gia ngoài khu vực, song để giữ sức mạnh hƣớng tâm (centripetal force) và thúc đẩy có hiệu quả việc xây dựng cộng đồng, phải nhanh chóng tăng số thành viên tham gia”.Ở đây tác giả muốn nói rằng Cộng đồng Đông Á trong tƣơng lai cần có thêm các đối tác khác, nhất là sự tham gia của Mỹ - một cƣờng quốc có ảnh hƣởng mạnh đến khu vực. Ngoài hai quan điểm chủ đạo trên còn có các ý kiến khác coi Đông Á chỉ bao gồm các nƣớc Đông Bắc Á. Tiến sỹ Chayachoke Chulasiriwongs7 băn khoăn rằng khi sử dụng thuật ngữ “Đông Á”, ngƣời ta thƣờng dùng để chỉ các quốc gia và vùng lãnh thổ nhƣ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc, Hồng Công, Nhật Bản và Mông Cổ.
Theo quan điểm này, các nƣớc ASEAN thi thoảng mới đƣợc đề cập đến. Cách nhìn nhận này phù hợp với quan điểm của Châu Âu khi coi các nƣớc Đông Bắc Á là thuộc vùng “Viễn Đông” và về sau với sự trỗi dậy của các nƣớc Châu Á họ đã có sự thay đổi về nhận thức về vị trí địa lý của Đông Á. Mặc dù có những quan điểm nhìn nhận khác nhau về khái niệm khu vực Đông Á nhƣng hiện nay, khi nhắc đến khu vực Đông Á, ngƣời ta thƣờng nhắc đến ASEAN + 38 bởi vì đây là cơ chế hiện thực nhất giữa ASEAN và 3 nƣớc Đông Bắc Á mà từ trƣớc đến nay ASEAN đã đạt đƣợc những thành tựu đáng ghi nhận trong nỗ lực hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, và hƣớng tới sự phát triển toàn diện. Kể từ sau cuộc Khủng hoảng Tài chính Châu Á 1997, thực tiễn cho thấy một hƣớng phát triển và hội nhập kinh tế chủ động hơn theo hƣớng tăng cƣờng mạnh mẽ sự phát triển các khuôn khổ thể chế.
Về bản chất, khi nói đến hợp tác và hội nhập kinh tế Đông Á (ASEAN + 3), ngƣời ta đặc biệt nhấn mạnh giai đoạn này, đó là điểm có thể tạo sự đột phá bất ngờ mang tính chủ động hội nhập. Đây là giai 6 Cán bộ nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Nhật Bản, Trƣờng đại học Nam Khai, Trung Quốc 7 Trƣờng Đại học Chulalongkon, Thái Lan 8 Bao gồm 10 nƣớc ASEAN và 3 nƣớc Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đoạn tích cực thiết lập các cơ chế tự do thƣơng mại và hợp tác kinh tế toàn diện song phƣơng và đa phƣơng. Với phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả ủng hộ quan điểm hợp tác Đông Á chính là ASEAN + 3 đóng vai trò là nòng cốt.
Trong Đông Á hiện có nhiều cơ chế hợp tác đang hình thành và ngày càng đa dạng9. Đối với khu vực Đông Á thì ASEAN + 3 đƣợc coi là xu thế hợp tác mang bản sắc và có nhiều triển vọng của khu vực. Cho nên, hiện nay khi nói đến vị trí địa lý của khu vực Đông Á, ngƣời ta sử dụng cơ chế hợp tác ASEAN + 3 để xác định phạm vi. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế, xã hội khu vực Đông Á Về mặt địa lý, theo quan điểm của tác giả đƣợc đề cập trong luận văn này thì khu vực Đông Á bao gồm hai bộ phận Đông Bắc Á và Đông Nam Á.
Đông Bắc Á bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, hai quốc gia nằm trên bán đảo Triều Tiên và Mông Cổ; Đông Nam Á bao gồm 10 nƣớc thành viên ASEAN và Đông Timor. Khu vực này có tổng dân số khoảng 2,15 tỷ ngƣời (khoảng 1/3 dân số thế giới) và tổng GDP trên 13 nghìn tỷ USD (chiếm gần 1/4 GDP của toàn thế giới). Đông Á cũng chiếm tới gần 30% tổng thƣơng mại của thế giới và hàng năm thu hút gần 1/3 tổng FDI toàn cầu. Đây là khu vực có hai nền kinh tế hàng đầu thế giới (sau Mỹ) là Nhật Bản và Trung Quốc.
Trung Quốc hiện đã vƣơn lên thành nƣớc đứng đầu thế giới về xuất khẩu và dự trữ ngoại tệ với tổng số 2. Khu vực này là điểm phát triển năng động nhất của vành đai kinh tế Châu Á – Thái Bình Dƣơng và đƣợc dự đoán là “khu vực của thế kỷ XXI”. Ngoài hai nền kinh tế hàng đầu thế giới là Trung Quốc và Nhật Bản thì Đông Á còn sở hữu các nền kinh tế mới nổi và năng động nhƣ Hàn Quốc, Singapore, Malaysia và Thái Lan. Vì thế, có thể nói Đông Á là một khu vực phát triển năng động và có tiềm năng cạnh tranh với Châu Âu và Bắc Mỹ trong tƣơng lai không xa.
Khi xác định những giá trị văn hóa, xã hội của các khu vực nói chung, của Châu Á nói riêng, ngƣời ta có thể dễ dàng nêu ra những nét tƣơng đồng – cơ sở quan trọng trong xây dựng một cộng đồng chung. Đó là các giá trị về truyền thống Nho giáo, tƣ tƣởng triết học phƣơng Đông. Những giá trị chung này đƣợc thể 9 Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Diễn đàn Khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng (APEC), ASEAN + 3, Hội nghị thƣợng đỉnh Đông Á (EAS)… 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện và vận dụng một cách hiệu quả trong quá trình phát triển của các quốc gia Châu Á – các nƣớc Đông Á theo quan điểm hiện nay là một phần chủ yếu của Châu Á – trong nhiều thập kỷ qua. Nho giáo, Khổng giáo, sự giao thoa giữa văn minh Trung - Ấn và tính đa dạng và sự xâm nhập của các giá trị văn hóa mới ở khu vực Đông Á cũng tạo ra những cơ hội để các nƣớc trong khu vực gần nhau hơn và hƣớng tới những mục tiêu chung khi cùng nhau đứng trong một cộng đồng.
Trong khu vực Đông Á, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc tạo thành một phần quan trọng của nền kinh tế thế giới, chi phối Đông Á cũng nhƣ Đông Bắc Á. Về quy mô kinh tế, ba nƣớc chiếm tới 18,6% GDP toàn cầu. Về kinh ngạch mậu dịch, phần giá trị của ba nƣớc chiếm 12% giá trị mậu dịch toàn cầu. Trong số nhóm nƣớc ASEAN + 3, ba nƣớc này chiếm 82,2% GDP và 64,2% dung lƣợng mậu dịch10.
Tuy nhiên, ngƣời ta chỉ bắt đầu thảo luận hợp tác kinh tế Đông Bắc Á sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc và trên thực tế hợp tác kinh tế trong khu vực này tăng trƣởng một bƣớc quan trọng. Khác với hợp tác kinh tế EU và NAFTA, hợp tác kinh tế ở khu vực Đông Bắc Á mang tính chất hợp tác chức năng hay còn gọi là hợp tác kinh tế phi thể chế. Thực tế cho thấy, mậu dịch tăng trƣởng mạnh trong các nƣớc Đông Bắc Á mà không có sự ủng hộ mang tính tổ chức ở cấp khu vực. Trong hơn một thập kỷ qua, Trung Quốc trở thành đối tác thƣơng mại lớn nhất của Nhật Bản và Hàn Quốc trong khi Nhật Bản đứng vị trí thứ 4 và Hàn Quốc đứng vị trí thứ 6 trong các đối tác thƣơng mại của Trung Quốc.
Năm 2011, thƣơng mại hai chiều giữa Trung Quốc và Nhật Bản đạt 240 tỉ đô la, tăng 22% trong khi kim ngạch thƣơng mại giữa Trung Quốc và Hàn Quốc đạt 250 tỉ đô la và sẽ đạt 300 tỉ đô la vào năm 2015. Chỉ sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, các nƣớc Đông Bắc Á mới bắt đầu nhận ra tầm quan trọng các hợp tác kinh tế khu vực và xem FTA Đông Bắc Á nhƣ là một chƣơng trình nghị sự quan trọng trong chính sách thƣơng mại các nƣớc này. Nhật bản ký kết Hiệp định Đối tác kinh tế với Singapore vào tháng 1 năm 2002. Do đó, Nhật Bản là nƣớc Đông Bắc Á đầu tiên tham gia vào một FTA với thành viên của ASEAN.
Sau đó, Hàn Quốc và Nhật Bản đã thỏa 10 Số liệu năm 2009, Japan, Alnamac 2012. 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuận và ký kết với ASEAN về lộ trình của một FTA với khối này. Trung Quốc đã ký một Hiệp định về Hợp tác kinh tế toàn diện với ASEAN tại Phnompenh vào tháng 11 năm 2002. Hơn 10 năm qua, đúng theo kế hoạch định hƣớng xây dựng các FTA giữa ASEAN với từng nƣớc Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, hiện nay ở Đông Á đã hình thành 3 FTA (ASEAN+1+1 và +1).
Ngoài ra, các nƣớc Đông Bắc Á cũng đã hình thành ý tƣởng xây dựng một mô hình hợp tác riêng tại khu vực này đó là Hợp tác Đông Bắc Á. Hợp tác Đông Bắc Á là một diễn đàn hợp tác đa phƣơng giữa ba nƣớc Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc mới hình thành từ tháng 12 năm 2008. Đánh dấu sự ra đời của khuôn khổ này là Hội nghị cấp cao đầu tiên giữa Thủ tƣớng Nhật Bản Taro Aso, Thủ tƣớng Trung Quốc Ôn Gia Bảo và Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung Bak diễn ra vào ngày 13 tháng 12 năm 2008 tại Fukuoka (Nhật Bản). Hợp tác Đông Bắc Á đƣợc xây dựng dựa trên sáng kiến hợp tác Đông Bắc Á do Thủ tƣớng Nhật Bản Keiso Obuchi đƣa ra trong Hội nghị thƣợng đỉnh ASEAN + 3 lần thứ 3 (tại Philipin, tháng 12 năm 1999).
Đó là sáng kiến tổ chức đối thoại cấp lãnh đạo ba bên giữa Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc trƣớc thềm hội nghị ASEAN +3. Đây là lần đầu tiên lãnh đạo ba nƣớc Đông Bắc Á họp thƣợng đỉnh để bàn về hợp tác trong bối cảnh Châu Á đứng trƣớc những thách thức và vận hội mới. Hội nghị đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng nhƣ “Tuyên bố chung về quan hệ đối tác Trung Quốc – Nhật Bản – Hàn Quốc”, “Kế hoạch hành động hợp tác Trung – Nhật – Hàn”, “Tuyên bố chung về vấn đề tiền tệ, kinh tế quốc tế”. Theo Kế hoạch hành động hợp tác, ba nƣớc thống nhất nhiều vấn đề liên quan cho sự hình thành và phát triển của Hợp tác Đông Bắc Á.