Phần Mở Đầu. Trong Phật giáo, chữ Thiền được dùng để chỉ định hai cách thực tập, đó là: “Thiền định” (samadha) và “Thiền Minh Sát” (Vipassana) (1).com/viet/thien/thien_la_gi.htm, Thiền là gì, Mỹ Thanh dịch, Venerable Ajahn Sumedho 19 Thiền định (Samadha) là cách tập trung ý tưởng vào một vật và không để bị chi phối bởi gì khác. Ta chọn một đối tượng như hơi thở chẳng hạn, và chú tâm theo dõi hơi thở ra vào. Trong cách thực hành này sau một thời gian luyện tập, tâm trí của bạn sẽ được an lành, yên tịnh, vì những ý tưởng lăng xăng lộn xộn đến từ những cảm thọ đã bị cắt đứt.
Bạn có thể chọn những đề mục, đối tượng khác nhau để tập trung sự chú tâm cho đến khi mà bạn cảm thấy mình và đề mục chú tâm trở nên Một. Sau một thời gian tập luyện đến mức độ này thì gọi là “sự hòa nhập”. Thiền định có bốn đặc tính căn bản sau: 1. Trong Thiền định, hành giả chìm trong sự tập trung hoàn toàn vào đối tượng.
Đây là trạng thái mà chúng ta gọi là “sự hoà nhập”, hành giả và đề mục là Một. Trong Thiền định, hành giả luôn thể nghiệm một cảm giác an lạc mạnh mẽ và sâu xa hơn bất cứ cảm giác an lạc nào mà trước đó hành giả được trải qua. Trong Thiền định, hành giả sẽ được làm sáng tỏ và sẽ nhận thức được chính ý thức của mình. Trong Thiền định, tâm hành giả không còn một niệm tưởng nào khởi lên nữa, thậm chí ngay cả khái niệm về đối tượng mà hành giả đang tập trung cũng không còn nữa.
Mỗi tư tưởng của chúng ta là một tiến trình toàn vẹn quen thuộc khởi từ trạng thái sinh, đến trụ và diệt. Điều mà Thiền định nhắm đến là chế ngự và đưa tâm thức của hành giả vào trạng thái “vô niệm”. Đây là ý thức ổn định và sáng tỏ chứ không phải ý thức luôn chuyển động của mỗi con người chúng ta đang diễn ra từng giây từng phút mỗi ngày. Sự hoà nhập, an lạc, sáng tỏ và “vô niệm” chính là những kinh nghiệm nền tảng của Thiền định.
Thiền Minh sát (Vipassana) là một phương pháp tu đơn giản, thực tế mang lại kết quả là tâm an lạc và hướng đến một đời sống lợi lạc và hạnh phúc. Vipassana có nghĩa là " thấy mọi sự vật như thật bản chất của chúng ngay trong 20 lúc quan sát"; nó là một tiến trình logic của việc thanh lọc tâm qua phương cách tự quán chiếu (self- observation). Thực tập Thiền Minh Sát (Vipassana) hoặc “Thiền quán” bằng cái nhìn thấu đáo thì tư tưởng của chúng ta sẽ được mở rộng. Chúng ta không cần phải chọn những đề mục đặc biệt để tập chú tâm, hoặc phải hòa nhập với chúng, mà chỉ cần nhìn, quan sát để hiểu rõ sự vật như nó là.
Khi nào chúng ta thấy rõ sự vật như nó là thì chúng ta sẽ thấy những cảm xúc thật là vô thường. Mọi thứ chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm; tất cả những khái niệm trừu tượng. những cảm giác, ký ức hay ý nghĩ… đang trên đà thay đổi, và tâm tưởng của chúng ta cũng vì thế mà đổi thay. Chúng xuất hiện một lúc rồi chúng biến mất.
Trong Thiền Minh sát, chúng ta giữ ý niệm của sự vô thường (hoặc thay đổi) như là một cách để quan sát những cảm thọ. Ðây không phải là một triết lý hay một sự tin tưởng có tính cách Phật học, mà đây là thấy được Vô thường - thấy mọi vật một cách thấu đáo, với cặp mắt của hiểu biết, để biết rõ mọi sự vật như chúng là. Ðây không phải là cách phân tách những sự vật để đánh giá rằng chúng như thế nầy hay thế khác - và khi sự vật không như ta nghĩ, ta lại tìm cách suy đoán nguyên nhân tại sao. Với sự thực tập về “cái thấy rốt ráo”, chúng ta không phân tách hay thay đổi sự vật theo ý của mình.
Trong cách thực tập nầy, chúng ta chỉ kiên nhẫn quan sát để thấy những gì xuất hiện sẽ biến mất, cho dù trên phương diện tinh thần hay vật chất. Khi “căn” và “trần” duyên với nhau thì ý thức liền xuất hiện. Sau đó là cảm giác thương hoặc ghét đối với những gì chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm được khởi lên. Tất cả những tên gọi, những ý tưởng, những chữ và khái niệm, chúng ta đặt ra theo kinh nghiệm của sự cảm thọ, và tâm chúng ta bị lôi theo sự chỉ bảo của những cảm thọ này, dẫn đến sự khổ đau, buồn phiền khi không đạt được mục đích mà tâm bình thường mong muốn, hoặc là vui quá mức khi ta đạt được những gì mình mong muốn.
Vì thế thực hành phép Thiền Minh sát là cho chúng ta biết được sự vật như chúng là để tâm bình thường không còn bị chi phối bởi cái vô thường đấy. Đây là cách thực tập để đạt được tâm an lạc, hạnh phúc. Mục tiêu của thiền Thiền là một trong rất nhiều phương pháp tu tập của Phật giáo, để nhằm được mục tiêu cuối cùng của Phật giáo là Giác ngộ, giải thoát. Trong Thiền cũng có rất nhiều phương pháp thực hành nhưng tất cả đều hướng tới mục tiêu duy nhất này của Phật giáo.
Tiếng Pali Phật pháp tức là Dhamma nghĩa là nâng đỡ hay giữ lại (nâng đỡ người hành động đúng theo qui tắc và giữ cho khỏi rơi vào trạng thái đau khổ). Dhamma, Giáo pháp, là cái gì thực sự là vậy, là thực tướng, do đó Dhamma là giáo lý của thực tế, Dhamma là phương tiện để giải thoát ra khỏi mọi khổ đau. Và Dhamma chính là sự giải thoát. Lời giảng dạy về mục tiêu duy nhất này của Đức Phật được ghi trong kinh Udana (Tập Khúc Ca Khải Hoàn của Tiểu Bộ Kinh trong Tạng Kinh) như sau: “Này hỡi Tỳ khưu, cũng như nước của đại dương hùng dũng chỉ có một vị là vị mặn của muối.
Giáo pháp chỉ có một vị là vị Giải Thoát”.(1) Giáo pháp cao thượng không phải là cái gì ở ngoài mà hoàn toàn tuỳ thuộc nơi ta và chỉ do ta mà chứng ngộ. Phật giáo nhấn mạnh đến khả năng nỗ lực tự mình giải thoát, mà không chủ trương dựa vào một thế lực siêu nhiên nào bên ngoài mỗi con người: “Hãy ẩn náu nơi chính ta như một hải đảo, như chỗ nương tựa”. Do đó, theo giáo lí nguyên thuỷ thì một hành giả đạt Bồ-đề, Giác ngộ khi ông ta đạt được một cái nhìn vạn vật như chúng có, với một tâm thức thoát khỏi phiền não và si mê. Trong các loại phiền não thì tham ái và vô minh cũng được gọi là si là những loại nặng nhất.
Tham, sân và si được gọi chung là ba chất độc (Tam độc), vì chúng gây ảnh hưởng lớn đến tâm thức. Vì phiền não vây phủ tâm thức nên hành giả gắng sức tiêu diệt chúng, và để tiêu diệt được thì ông ta phải gắng sức đạt được tri kiến chân chính bằng cách thực hành Bát chính đạo, tu tập giới – định – tuệ. (1) Kinh Udàna, Trang 69. 22 Như vậy, mặc dù có nhiều cách tu tập khác nhau nhưng mục tiêu cuối cùng của hành giả là đạt được Giác ngộ.
Mục tiêu của Thiền cũng không nằm ngoài Giác ngộ. Thiền, như các vị Thiền sư nhấn mạnh, là trở về với tự nhiên. Mục đích thực tiễn của Thiền là giải phóng con người ra khỏi sự ràng buộc của hình danh sắc tướng, thoát ra khỏi sự cám dỗ của thế gian, làm chủ được tâm, điều phục được ngũ căn, nhìn thế giới như nó vốn là nó. Với những người này, sự thành bại, nhục vinh, hơn thua, được mất, khen chê không gây được một ảnh hưởng gì nơi họ.
Như vậy nên Người tu Thiền phải thanh tịnh tâm ý, không để vọng tưởng quấy rầy, không dấy chứa phiền não, tham, sân, si. Tâm không bẩn nhơ, ý không vẩn đục, đó là tâm an tịnh rất cần thiết cho hành giả. Theo quan niệm của Thiền Phật giáo thì vạn hữu đều do tâm sinh khởi (Vạn pháp duy tâm) cho nên khi nắm được cái tâm thì làm chủ được tất cả; thành ra phương thức duy nhất, không tìm cầu bên ngoài, không dựa vào tha lực. Bởi vì Thiền, tự bản tính và ở mức độ cao, không phải là một triết học, mà là kinh nghiệm trực tiếp mà người ta phải thâm nhập bằng cả con người mình, mục tiêu đầu tiên của Thiền giả là đạt đến được và sau đó là thể hiện được kinh nghiệm thiền ấy.
Toàn thể bí mật của Thiền nằm trọn trong cái “cảm giác bình dị” tầm thường, ở trạng thái ban sơ, chân thật, và tự nhiên của nó. Bình dị nhưng huyền diệu, cái cảm giác này là nguyên lý căn bản của Thiền vì nó lập tức, nên không có giả tạo, suy tưởng đắn đo, hay ý niệm nhị nguyên nào có thể khởi lên từ nó. Từ đây ta có thể thấy mục tiêu duy nhất của Thiền là khiến ta có đủ khả năng để hiểu, thực hiện, và toàn thiện tâm của mình. Tâm là chủ đề và then chốt của việc nghiên cứu Thiền.
Đây chính là con đường đạt Giác ngộ. Đạo Phật đã tồn tại và có một lịch sử phát triển thăng trầm trong suốt hơn 2500 năm, từ Ấn Độ nó lan toả ra khắp nơi trên thế giới. Các đặc điểm của Phật giáo vì thế cũng chuyển vận để thích nghi với môi trường mới để phù hợp với 23 phong tục tập quán của từng con người, từng cộng đồng khác nhau trong xã hội cũng như các nền văn minh riêng biệt mới mà Phật giáo đến. Cốt tuỷ của đạo Phật không phải là các hình thức cứng nhắc của lễ đạo hay các lời sấm giảng mà là các phương pháp thực hành đôi khi dị biệt để dẫn dắt hành giả chứng ngộ được chân lý tối thượng.
Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, con người và tập tục ở các thời kỳ khác nhau, nên ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ và Tây Âu. Do đó, việc hình thành các bộ phái khác nhau có phương pháp tu học và cách giải thích khác nhau về giáo lý cho thích hợp với tình hình của mỗi xã hội mỗi thời điểm là điều tất yếu. Như vậy không chỉ Thiền mới đưa hành giả đến được với con đường giác ngộ, mà cũng có rất nhiều hình thức tu tập khác nhau của Phật giáo, tuy khác nhau về hình tướng nhưng cùng chung một mục tiêu duy nhất là đạt được Giác ngộ. Ở Mật tông, hành giả chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí để nhanh chóng đạt đến giác ngộ.