Chương 1 CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀ SPIN- OFF 2. Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 2. Khảo sát hoạt động của Công ty TNHH Khoa học Tự nhiên * Tiểu kết Chương 2 CHƢƠNG 3.
NHẬN DIỆN VAI TRÒ CỦA SPIN-OFF TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN TRONG VIỆC THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀO THỰC TIỄN 3. Các tiêu chí nhận diện vai trò của spin-off trong trường Đại học 3. Nhận diện vai trò của Công ty TNHH Khoa học Tự nhiên trong trường Đại học Khoa học Tự nhiên 3. Các giải pháp đảm bảo thực hiện * Tiểu kết Chương 3 KẾT LUẬN 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ DOANH NGHIỆP SPIN-OFF 1.1 Nghiên cứu khoa học và Hoạt động Khoa học và Công nghệ 1. Nghiên cứu Khoa học Khái niệm Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật và sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng. Nói cho cùng, nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. [7;27] Kết quả nghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu khoa học dù thể hiện dưới dạng nào thì cũng là những tri thức khoa học, tức thông tin chứa đựng các tri thức khoa học: Thông tin về một quy luật của đối tượng mà khoa học nghiên cứu, thông tin về một nguyên lý công nghệ được tìm ra sau quá trình nghiên cứu khoa học, thông tin về một vật liệu mới, công nghệ mới,v.v…[10;59] Tuy nhiên, chúng ta không thể tiếp xúc trực tiếp với các tri thức khoa học, mà chỉ có thể tiếp xúc được với các tri thức khoa học đã được mã hóa dưới dạng chữ viết, âm thanh hoặc hình ảnh và được chứa đựng trong các vật mang tri thức khoa học.
Về cơ bản có 3 loại vật mang tri thức khoa học. Đó là vật mang vật lý, vật mang công nghệ và vật mang xã hội. Vật mang vật lý: Các loại bài báo, báo cáo khoa học; mẫu vật thu được từ các công cuộc tìm kiếm, điều tra; băng âm, băng hình, đĩa âm, đĩa hình v.v… Vật mang công nghệ: Là những hình mẫu thu được từ kết quả triển khai thực nghiệm như: mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới v.v… 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vật mang xã hội: Có thể là các nhân một chuyên gia, hoặc một nhóm chuyên gia; Phân loại theo tính chất của sản phảm nghiên cứu Nghiên cứu cơ bản: Là những nghiên cứu phân tích các thuộc tính, cấu trúc, hiện tượng các sự vật nhằm phát triển bản chất và quy luật của các sự vật hoặc hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, con người. [10] Kết quả nghiên cứu cơ bản luôn là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, những định luật, định lý… Cuối cùng, trên cơ sở những nghiên cứu này, người nghiên cứu đưa ra được những phát hiện, phát minh, xây dựng nên những cơ sở lý thuyết có một giá trị tổng quát cho nhiều lĩnh vực hoạt động.
Nghiên cứu ứng dụng: Là sự vận dụng các quy luật từ trong nghiên cứu cơ bản để đưa ra những mô tả, giải thích, dự báo hoặc những nguyên lý về các giải pháp, có thể bao gồm công nghệ, sản phẩm, vật liệu, thiết bị; nghiên cứu áp dụng các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào trong một môi trường mới của sự vật và hiện tượng. Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là một giải pháp mới về tổ chức, quản lý, xã hội hoặc công nghệ, vật liệu, sản phẩm, v.v… Giải pháp hữu ích, sáng chế cũng là sản phẩm thuộc loại hình này. Mặc dù gọi là nghiên cứu ứng dụng nhưng kết quả của nó thì chưa ứng dụng được. Để có thể đưa kết quả của nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng trong thực tế thì còn phải tiến hành triển khai, nhằm hiện thực hóa các nguyên lý thu được từ kết quả nghiên cứu về mặt lý thuyết thành công nghệ vận hành được trong sản xuất công nghiệp.
Triển khai: Là sự vận dụng các quy luật (thu được từ trong nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (thu được từ trong nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu với những tham số đủ mang tính khả thi về kỹ thuật. Hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn: tạo vật mẫu, làm pilot, sản xuất thử ở quy mô loạt nhỏ (serie No 0). 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hoạt động Khoa học và Công nghệ Khái niệm Hoạt động Khoa học và Công nghệ là thuật ngữ được sử dụng trong các văn kiện chính sách KH&CN của UNESCO từ thập niên 1970.
Hoạt động KH&CN có thể bao gồm một số nội dung sau:[9;129] Hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D). Trong nền kinh tế thị trường, loại hoạt động này được thực hiện trước hết trong các trường đại học, trong các doanh nghiệp và cũng có cả các viện nghiên cứu độc lập; Hoạt động phát triển công nghệ, bao gồm mở rộng công nghệ, nâng cấp công nghệ và đổi mới công nghệ; Hoạt động dịch vụ KH&CN, bao gồm dịch vụ thông tin, dịch vụ công nghệ thông tin; dịch vụ cung ứng; sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng thiết bị thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu; một số loại dịch vụ về tư vấn đầu tư, tư vấn chuyển giao công nghệ. Xã hội càng phát triển thì hoạt động khoa học và công nghệ càng phát triển đa dạng và phong phú. Hoạt động Khoa học và Công nghệ trong trường đại học Tại các nước có nền khoa học phát triển, hoạt động KH&CN là một bộ phận quan trọng của trường đại học.
Trong các nước XHCN trước đây, đại học và nghiên cứu được tổ chức tách rời nhau. Sau khi hệ thống kinh tế XHCN sụp đổ, hệ thống kinh tế thị trường được phục hồi, các bộ chỉ còn giữ lại chức năng quản lý nhà nước, các doanh nghiệp phải phát triển hoạt động R&D để nâng cao năng lực cạnh tranh. Do đó phát triển các hình thức tổ chức R&D trong doanh nghiệp. Chức năng nghiên cứu khoa học cũng được coi trọng trong các trường đại học, phục hồi mối quan hệ vốn có giữa đào tạo và nghiên cứu trong trường đại học.
[9;131] Hệ thống khoa học ở Việt Nam 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy hoạt động khoa học ở Việt Nam bắt đầu từ thời thuộc Pháp, nhưng mô hình hệ thống khoa học hiện nay, có thể nói, bắt đầu hình thành ở miền Bắc từ sau 1954 và trong phạm vi cả nước từ sau 1975. Đầu thập niên 1990, về cơ bản Việt Nam đã xây dựng hệ thống khoa học và đại học theo kinh nghiệm của Liên Xô: các tổ chức nghiên cứu khoa học hầu như nằm tách biệt khỏi các trường đại học và xí nghiệp; trong trường đại học hầu như chỉ có phòng thí nghiệm giáo học, không có viện nghiên cứu và cơ sở thực nghiệm khoa học; xí nghiệp cũng không có các labo (laboratory) và xưởng pilot; ngay cả các viện nghiên cứu công nghệ (vốn đã nằm ngoài các xí nghiệp và trường đại học) cũng không có xưởng pilot. Đến cuối thập niên 1980 hoạt động khoa học ở miền Bắc thuộc độc quyền của Đảng và của Nhà nước. Toàn bộ tài trợ cho khoa học dựa trên một nguồn kinh phí duy nhất do Nhà nước cấp.
Mọi hợp đồng giữa các cơ quan khoa học với nhau hoặc với xí nghiệp đều bị xem là bất hợp pháp. Chỉ đến khi ra đời Quyết định 175/CP của Chính phủ năm 1981, chủ trương cấm đoán này mới bị xoá bỏ. Ngày 28/1/1992, Nghị định 35/HĐBT được ban hành đã vạch một mốc quan trọng trong hệ thống khoa học Việt Nam: xuất hiện các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài khu vực nhà nước; nhiều cơ sở nghiên cứu trong trường đại học và xí nghiệp công nghiệp đã hình thành, nhưng hệ thống khoa học tách rời đại học trên đại thể vẫn tồn tại. Cũng từ năm 1992, hàng loạt tổ chức khoa học cũng xuất hiện trong các trường đại học, nhưng hoạt động khoa học ở các trường chưa thể so sánh được với các viện nằm ngoài đại học, nhất là các viện trực thuộc Chính phủ, có quyền ưu tiên rất cao về cung cấp các nguồn lực.
Trong các đề án cải cách hệ thống khoa học và đại học được thảo luận rộng rãi ở nước ta từ đầu những năm 1990, điển hình nhất là chủ trương “nhất thể hóa khoa học với giáo dục và sản xuất” được viết trong Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị về chính sách KH&CN năm 1991. Trên tinh thần Nghị quyết 26, Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người chủ trương tái cấu trúc hệ thống KH&CN 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bằng việc trả lại hoạt động R&D cho đại học và cho doanh nghiệp, Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh trực tiếp phụ trách công việc này, nhưng trở ngại quá lớn, nên chủ trương này không thực hiện được. Vào thập niên 90, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam - Nguyễn Văn Hiệu đã tiến hành mở ra hàng loạt spin-off tại Viện, đồng thời đưa phương án thành lập một trường đại học. Sau thời Viện trưởng Nguyễn Văn Hiệu, một trường đại học đã được thành lập, nhưng đã được đặt trực thuộc Bộ GD&ĐT, đến nay lại trở về với Viện, nhưng đáng tiếc, các spin-off đều đã bị loại khỏi cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học Việt Nam.
Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam, xu thế biến đổi của các tổ chức R&D vốn bị tách rời đại học và doanh nghiệp đang rất bức xúc và sự bức xúc đó là chính đáng. Trên thực tế, hàng loạt cơ sở đào tạo đã xuất hiện trong các viện, hàng loạt tổ chức R&D đang hình thành trong doanh nghiệp và đại học. Đó là một xu thế lành mạnh tiến dần tới những giá trị phổ quát của thế giới. Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ 1.
Khái niệm Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ Có rất nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ Doanh nghiệp KH&CN: Doanh nghiệp dựa trên tri thức (knowledge-based firm); doanh nghiệp dựa trên khoa học (science-based firm); doanh nghiệp dựa trên công nghệ (technology- based firm, technology-based venture); doanh nghiệp dựa trên công nghệ mới/ và cao (new/and high technology-based firm); doanh nghiệp vệ tinh hàn lâm (academic spin-off/spin-out) và nhiều thuật ngữ khác [19;13].