Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍ NH SÁCH KINH TẾ BIỂN ̣ 1. Các khái niêm 1. Khái niê ̣m “Kinh tế Biể n” Kinh tế biể n là mô ̣t vấ n đề mới đố i với Viê ̣t Nam trong những thâ ̣p kỷ gầ n đây, tuy nhiên nó không còn xa la ̣ với nề n kinh tế thế giới nói chung, đă ̣c biê ̣t là các nước phát triể n. Cùng với các nghiên cứu tìm ra hướng khai thác thực tiễn các nguồ n lực từ biể n mô ̣t cách hiê ̣u quả thì vấ n đề nghiên cứu các lý thuyế t, đă ̣c biê ̣t về khái niệm kinh tế biển cũng được trình bày một cách khá rõ trong những báo cáo của các ho ̣c giả trên khắ p thế giới: Theo một báo cáo của Nathan Associates (1974) cho Cục phân tích kinh tế Mỹ đã chỉ ra rằng: “Kinh tế biển là nền kinh tế tận dụng nguồn lực của biển trong quá trình sản xuất hay là quá trình sản xuất một sản phẩm hoặc dịch vụ phụ thuộc vào chất lượng của các nguồn lực biển” [96, tr.
Khái niê ̣m này chỉ thẳ ng vào các nguồ n lực từ biể n đem la ̣i cho nề n kinh tế , biể n là nguồ n lực cho các ngành kinh tế khác nhau phát triể n dựa trên nguồ n lực biể n đem la ̣i. Vụ Nghề cá và Đại dương Canada (DFO), (2002) thì cho rằ ng: “Kinh tế biển là những ngành được thành lập trong khu vực hàng hải và các cộng đồng ven biển liền kề với các khu vực này, hay những ngành mà thu nhập của chúng phụ thuộc vào các khu vực này” [94, tr. Rõ ràng DFO đã không nhấ n ma ̣nh vào nguồ n lực của biể n khi nói về kinh tế biể n giố ng như Nathan Associates mà gắ n khái niê ̣m này với các ngành kinh tế , nghiã là gắ n với các sản phẩ m mà biể n đem la ̣i cho con người. Có thể thấy hai góc tiế p câ ̣n khác nhau của hai nghiên cứu, mô ̣t bên xem kinh tế biể n như mô ̣t chủ thể ta ̣o ra đô ̣ng lực cho các ngành kinh tế phát triể n, còn mô ̣t bên xem kinh tế biể n như mô ̣t sản phẩ m của biể n ta ̣o ra.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Allen (2004) khi bàn về kinh tế biể n đã phân biệt “các hoạt động sử dụng các nguồn tài nguyên biển (như nghề cá thương mại hoặc khai thác dầu và khí đốt khu vực biển), những ngành có liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ liên quan đến vận tải biển (như các ngành công nghiệp vận chuyển và các hoạt động cảng) và những ngành khác mà lợi ích của chúng phụ thuộc vào các thuộc tính tích cực của môi trường biển (như du lịch biển)” [91, tr. Năm 2006, Hiệp hội thống kê New Zealand đã cho ra đời mô ̣t nghiên cứu mà trong đó đã cho thấ y ước tính đóng góp của kinh tế biển vào tổng GDP của nền kinh tế trong giai đoạn 1997 – 2002, cũng trong nghiên cứu này, các tác giả đã khẳng định: “kinh tế biển là tổng thể các hoạt động kinh tế sử dụng hoặc diễn ra trong môi trường biển, hoặc sản xuất các hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho các hoạt động trên biển” [97, tr. Trong báo cáo của Chương trình kinh tế biển Quốc gia (NOEP), Colgan (2007) đã phân biệt giữa kinh tế biển và kinh tế ven biển. Theo họ, cả hai khái niệm đều liên quan chặt chẽ, nhưng được thể hiện dưới các khái niệm khác nhau.
“Trong khi kinh tế ven biển dùng để chỉ tất cả các hoạt động kinh tế diễn ra ở vùng hoặc khu vực ven biển, thì kinh tế biển được giới hạn cho các hoạt động kinh tế trực tiếp hay gián tiếp sử dụng các nguồn lực từ đại dương làm yếu tố đầu vào” [92, tr. Ecorys (2012) cho rằ ng: “kinh tế biển là nền kinh tế mà trong đó bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế ngành và liên ngành có liên quan đến đại dương, biển và vùng ven biển” [95, tr. Khái niê ̣m của Ecorys đưa ra có nét tương đồ ng với quan điể m của DFO khi xem các ngành kinh tế hoa ̣t đô ̣ng phu ̣ thuô ̣c vào biể n là chủ thể và rõ ràng kinh tế biể n tách ra và đô ̣c lâ ̣p với khái niê ̣m đô ̣ng lực từ biể n tác đô ̣ng đế n các nề n kinh tế của con người. Nhưng bên ca ̣nh đó, trong nghiên cứu của mình Ecorys cũng đề câ ̣p đế n các nhóm phu ̣c vu ̣ cho hoạt động của các ngành kinh tế biển, do đó, ngoài các khu ven biển, các hoạt động này cũng có thể được tìm thấy ở ngoài khơi.
18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Zhai Ren-Xiang, Li Wei (2013), “kinh tế biển là tổng thể của nhiều loại hình hoạt động cho sự phát triển công nghiệp, khai thác và bảo vệ nguồn lợi của biển cũng như các hoạt động liên kết với chúng” [98, tr. Cũng như các nghiên cứu quốc tế, khái niệm kinh tế biển ở Viê ̣t Nam vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Huỳnh Văn Thanh (2002) đưa ra quan điể m của mình trong Tài liê ̣u nghiên cứu về kinh tế biể n Đà Nẵng: “kinh tế biển là sự kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động kinh tế trên biển với các hoạt động kinh tế trên đất liền, trong đó biển chủ yếu đóng vai trò khai thác nguyên liệu, hoạt động vận tải, hoạt động du lịch trên biển, còn hầu hết các hoạt động tổ chức sản xuất, chế biến, hậu cần, dịch vụ phục vụ khai thác biển lại nằm trên đất liền. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật trong mấy thập niên gần đây cho phép con người có thể khai thác, sử dụng nhiều loại tài nguyên thiên nhiên của biển và đại dương” [66, tr.
Viện khoa học xã hội Việt Nam và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007) đinh ̣ nghiã khái niê ̣m kinh tế biể n, theo đó quan niệm theo nghĩa hẹp: “Kinh tế biển bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu gồm: (1) Kinh tế hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); (2) Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng); (3) Khai thác dầu khí ngoài khơi; (4) Du lịch biển; (5) Làm muối; (6) Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; (7) Kinh tế đảo”. Quan niệm theo nghĩa rộng: “Kinh tế biển bao gồm các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển: Kinh tế hàng hải; Hải sản; Khai thác dầu khí ngoài khơi; Du lịch biển; Làm muối; Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; Kinh tế đảo và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm: Đóng và sửa chữa tàu biển; Công nghiệp chế biến dầu khí; Công nghiệp chế biến thủy, hải sản; Cung cấp dịch vụ biển; Thông tin liên lạc biển Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ quản lý kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên môi trường biển” [90, tr. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Đào Duy Quát và Phạm Văn Linh (2008), “kinh tế biển là hoạt động kinh tế có ba lợi ích kinh tế phục vụ con người rõ ràng nhất là vận tải biển, khai thác nguồn tài nguyên phong phú của biển và du lịch viễn thông”[54, tr. Có thể nói kinh tế biể n là mô ̣t khái niê ̣m thuô ̣c tầ m vi ̃ mô và nế u bóc tách từng khía ca ̣nh của khái niê ̣m này giố ng như “lấ y đă ̣c tính của mô ̣t cá thể để kết luận đă ̣c trưng của hê ̣ thố ng” là chưa đủ để cho ra mô ̣t kế t quả đánh giá chính xác và khách quan nhấ t.
Tuy nhiên, mă ̣c dù có sự khác nhau về góc tiế p câ ̣n và phương pháp tiếp cận nhưng các khái niệm trên đây đều có những điểm chung khi coi kinh tế biển là toàn bộ hoạt động kinh tế liên quan đến biển và là là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia. Mỗi đă ̣c điể m của kinh tế biể n đươc̣ bóc tách từ những khía ca ̣nh nghiên cứu khác nhau đã dầ n làm sáng rõ khái nhiê ̣m kinh tế biể n, tổ ng hơp̣ và phân tích từ nghiên cứu của các ho ̣c giả trong và ngoài nước, tác giả đánh giá và đưa ra quan điể m của riêng mình về khái niê ̣m kinh tế biể n, rằng: Kinh tế biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế [Kinh tế hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển), hải sản (đánh bắt và nuôi trồng), khai thác dầu khí ngoài khơi, du lịch biển, làm muối, dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, kinh tế đảo”,…] diễn ra trực tiếp trên biển và các khu vực ven biể n, trong đó bao gồ m tấ t cả các hoạt động kinh tế có liên quan và phụ thuộc trực tiế p vào biể n và nguồ n lực từ biể n đem lại để tạo ra của cải xã hội. Khái niê ̣m “Kinh tế du lich ̣ biể n” ̣ biể n là mô ̣t trong những thế ma ̣nh do biể n đem la ̣i và còn nhiề u tiề m năng Du lich khai thác ở Viê ̣t Nam, kinh tế du lich ̣ biể n là mô ̣t liñ h vực quan tro ̣ng trong cơ cấ u ̣ vu ̣, ước tính đến năm 2020, kinh tế biển và ven biển đóng góp khoảng 53- ngành dich 55% GDP cả nước, trong đó du lịch biển là khâu đột phá thứ 4 sẽ có mức đóng góp khoảng 14-15% GDP của nền kinh tế biển quốc gia. Kinh tế du lịch biển là loại hình du lịch được phát triển dựa trên những tiềm năng về biển, diễn ra trong các vùng có tiềm năng về biển hướng tới thỏa mãn nhu cầu của 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.