Lời mở đầu Chƣơng 1 : Những vấn đề lý luận chung về thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm, về hoạt động thông tin của các tổ chức khoa học & công nghệ 1. Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm 1. Lý luận chung về hoạt động thông tin. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tại Trung tâm thông tin KHCN & Tin học Hải Dƣơng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Thực trạng hoạt động về chức năng nhiệm vụ , cơ cấu tổ chức, tình hình tài chính, biên chế của đơn vị 2. Các hoạt động của đơn vị có thể chuyển đổi theo Nghị định 115 2. Các hoạt động của đơn vị chƣa thực hiện chế độ tự chủ 2. Những khó khăn của đơn vị trong quá trình thực hiện chuyển đổi.
Chƣơng 3 : Vai trò của Nhà nƣớc và một số đề xuất đối với việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/CP của các tổ chức khoa học & công nghệ 3. Chính sách của Nhà nƣớc đối với các đơn vị KH&CN khi thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Chính sách của Nhà nƣớc đối với các hoạt động thông tin. Một số đề xuất đối với công tác quản lý.
Kết luận Khuyến nghị 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM, VỀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 1. Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm : 1. Các khái niệm liên quan: a.Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức khoa học và công nghệ - Tự chủ, tự chịu trách nhiệm : là quyền đƣợc chủ động, sáng tạo về nhiệm vụ, tài chính và tài sản, tổ chức và biên chế và trách nhiệm với các vấn đề trên của thủ trƣởng các tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
- Tổ chức khoa học và công nghệ: là các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ có tƣ cách pháp nhân, có con dấu riêng, do cơ quan quản lý Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập. Thông tin khoa học công nghệ - Thông tin khoa học và công nghệ là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội. - Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông tin khoa học và công nghệ; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ thông tin khoa học và công nghệ. - Tài liệu là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dạng văn bản, âm thanh, đồ hoạ, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quản, phổ biến và sử dụng.
- Vật mang tin là phương tiện vật chất dùng để lưu giữ thông tin gồm giấy, phim, băng từ, đĩa từ, đĩa quang và các vật mang tin khác. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nguồn tin khoc học và công nghệ bao gồm sách, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ khoa học khoa học công nghệ, tài liệu sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác được tổ chức, cá nhân thu thập. - Tổ chức dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ là dơn vị sự nghiệp thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thành lập theo quy định của pháp luật. Ý nghĩa của vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm : Một trong những đặc điểm nổi bật của xu hƣớng mới trong KH&CN hiện nay có ảnh hƣởng tới tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức Kh&CN là mối liên kết giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển.
Quá trình từ phát minh khoa học đến sáng chế, phát triển công nghệ và đƣa vào sử dụng trong sản xuất ngày càng rút ngắn. Gắn bó chặt chẽ giữa hoạt động KH&CN với hoạt động sản xuất đòi hỏi các tổ chức nghiên cứu nói chung phải chủ động 1mở rộng quan hệ với doanh nghiệp, phải năng động trƣớc các diễn biến của đời sống kinh tế và điều đó chỉ có thể thực hiện đƣợc đúng với việc tăng cƣờng quyền tự chủ, thái độ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN. Ngoài việc tăng cƣờng quyền tự do, tự chủ trong nghiên cứu KH&CN và phát huy các kết quả nghiên cứu KH&CN, ý nghĩa khác của tự chủ, tự chịu trách nhiệm còn là nâng cao đời sống của các nhà KH&CN. Cần nhấn mạnh đến đời sống của nhà KH&CN là bởi vì mức thu nhập quá thấp đang khiến cho nhiều cán bộ nghiên cứu không muốn gắn bó với công việc của mình với tổ chức KH&CN.
Đời sống cũng là nguyên nhân chính làm cho các đơn vị KH&CN không thu hút đƣợc ngƣời giỏi vào làm việc. Thực ra, đảm bảo lợi ích của nhà KH&CN là vấn đề từng đợc công khai đề cập tới từ lâu, chẳng hạn, trên Tạp chí hoạt động Khoa học số 7/1988, các tác giả Nguyễn Điền và Ngô Vi Khoát (Viện công cụ cơ giới hóa nông nghiệp, nay là Viện cơ điện 1 Điều 2 Nghị định số 159/2004/NĐ-CP về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nông nghiệp) đã xác định rõ hai mục tiêu của viện nghiên cứu là: “. Mục tiêu hàng đầu là mỗi hoạt khoa học kỹ thuật của viện nghiên cứu phải xuất phát và nhằm phục vụ cho yêu cầu của sản xuất, thúc đẩy khoa häc kỹ thuật đi vào sản xuất, làm lợi cho sản xuất; mục tiêu thứ hai là làm lợi cho người lao động khoa học kỹ thuật, bao gồm cả cá nhân và tập thể đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật được bồi dưỡng và đầu tư theo chiều sâu để lao động chất xám sáng tạo không ngừng”.
Sở dĩ sau nhiều năm mục tiêu nâng cao đời sống của các nhà KH&CN tiếp tục được nhấn mạnh là do mức sống và các chính sách có liên quan tới lợi ích của họ vẫn chưa có những thay đổi đáng kể2. Có thể nói tự chủ sẽ buộc các tổ chức tự chịu trách nhiệm về khả năng hoạt động của mình. Đồng thời, sau một thời gian thiết lập tràn lan các tổ chức KH&CN thuộc Nhà nƣớc, lúc này cần rà soát lại xem những đơn vị nào cần giữ lại thuộc Nhà nƣớc và những đơn vị có thể chuyển sang thành phần kinh tế khác. Qua những phân tích trên, có thể rút ra một số định hƣớng quan trọng cho nghiên cứu nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN: - Tự chủ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức là nhằm vào các mục tiêu cụ thể về : giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, đáp ứng những thay đổi trong chính sách KH&CN, đáp ứng xu hƣớng phát triển mới của KH&CN.
- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm là một tất yếu khách quan, nhƣng cũng là những tình huống phụ thuộc vào hoàn cảnh (không gian và thời gian) nhất định. Tự chủ tự chịu trách nhiệm không phải là một chế độ đƣợc xác lập theo tính chất "từ không đến có" và nhất thành bất biến, mà chủ yếu là các động thái biến đổi, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng. - Nhìn chung các tổ chức KH&CN cần tăng cƣờng tự chủ trên cả 2 mặt : giảm những loại tổ chức KH&CN mang tính phụ thuộc cao, đồng thời tăng mức độ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tự chủ ở mọi loại hình tổ chức KH&CN. Nói một cách khác là tăng tự chủ ở mọi loại và tăng loại có khả năng tự chủ cao.
Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức NC&PT nhà nước theo một số đánh giá, kinh nghiệm của nước ngoài : Hoạt động của các tổ chức NC&PT có liên quan đến nhiều mặt về hoạt động KH&CN, tài chính, quản lý nhân sự, quan hệ quốc tế. Tự chủ, tự chịu trách nhiệm diễn ra trên tất cả các mặt đó; tự chủ trong các hoạt động thuộc khuôn khổ Nhà nƣớc (nhiệm vụ của Nhà nƣớc giao, kinh phí nhà nƣớc cấp.), tự chủ trong hoạt động ngoài khuôn khổ nhà nƣớc, quan hệ giữa tự chủ (quyền) và tự chịu trách nhiệm (nghĩa vụ), cách thức giải quyết những mâu thuẫn đặt ra. Về nhiệm vụ KH&CN: Liên quan tới tự chủ của các tổ chức NC&PT nhà nƣớc có thể chia thành 3 loại nhiệm vụ. Loại nhiệm vụ thứ nhất là những công việc đƣợc Nhà nƣớc giao cụ thể và trực tiếp.
Ví dụ nhƣ một số vấn đề cấp bách đã đƣợc xác định rõ về đối tƣợng nghiên cứu trong quốc phòng, phòng chống thiên tai, phát triển kinh tế-xã hội.Với loại nhiệm vụ này, tổ chức NC&PT chỉ là ngƣời lĩnh hội và thực hiện nhiệm vụ trên giao. Loại nhiệm vụ thứ hai là các chủ đề nghiên cứu trong chức năng hoạt động của tổ chức (đã đƣợc Nhà nƣớc quy định). Trong một phạm vi khá rộng, việc nghiên cứu có quyền và phải tự chịu trách nhiệm lựa chọn ra các vấn đề làm nhiệm vụ khoa học và công nghệ cụ thể. Đối với một số nhiệm vụ đƣợc Nhà nƣớc giao trực tiếp nhƣng chỉ có tính chất định hƣớng, viện nghiên cứu cũng phải tự cụ thể hoá, xác định rõ các vấn đề cần tập trung giải quyết.
Nhìn chung, mức độ tự chủ của loại nhiệm vụ thứ hai cao hơn nhiệm vụ thứ nhất, nhƣng giới hạn về tự chủ ở loại này cũng rất rõ ràng, Ngoài giới hạn lĩnh vực, phạm vi xác định đề tài theo chức năng và theo nhiệm vụ định hƣớng do Nhà nƣớc giao trực tiếp, thông thƣờng các kế hoạch nghiên cứu của đơn vị còn phải đƣợc Nhà nƣớc xét duyệt một cách chặt chẽ.vn/Nguyễn Điền & Ngô Vi Khoát, Tạp ch í hoạt động khoa học tháng 7.1998 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Loại nhiệm vụ thứ ba là các hợp đồng mà tổ chức NC&PT ký kết thực hiện với bên ngoài. Lựa chọn những hợp đồng nào hoàn toàn thuộc quyền tự chủ của các đơn vị trên cơ sở vận dụng các quy luật của kinh tế thị trƣờng.