Chương 1 NHỮNG VẤN ðỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 1.1 Khái niệm thị trường tài chính Kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển, sự phân công lao ñộng xã hội ngày càng sâu sắc, trong xã hội xuất hiện hai nhóm người: nhóm những người thiếu vốn, cần tìm nguồn tài trợ cho hoạt ñộng sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng và nhóm người tiết kiệm có vốn dư thừa muốn tìm cách sinh lợi. Như vậy, trong nền kinh tế lúc này ñã xuất hiện cung và cầu về vốn. Nền kinh tế nói chung và các chủ thể kể trên nói riêng sẽ không có cơ hội phát triển nếu cung và cầu về vốn chưa gặp ñược nhau. Lúc ñầu người thừa vốn và người thiếu vốn sẽ tìm cách gặp nhau một cách trực tiếp và tự phát.
Họ thoả thuận với nhau, qua ñó một người sẽ sử dụng vốn của người kia trong một thời gian nhất ñịnh với ñiều kiện hoàn trả ñúng thời hạn khoản vốn ban ñầu và một khoản “hoa hồng” tương xứng, ñược gọi là lãi. Với phương thức này, nhu cầu của hai bên sẽ ñược thoả mãn. Tuy nhiên, theo cách này chi phí giao dịch (exchange cost) sẽ rất cao bởi cả người cần vốn và người có vốn ñều có thể mất rất nhiều chi phí như: chi phí thời gian, chi phí ñợi chờ và tìm kiếm ñối tác, thậm chí mất ñi cả những cơ hội trong kinh doanh ñể gặp ñược nhau [31]. Nhược ñiểm trên ñược khắc phục với sự xuất hiện của một nhóm người ñứng ra làm trung gian giữa người cần vốn và người có vốn.
Họ giúp cho người cần vốn và người có vốn gặp nhau dễ dàng hơn lúc ñó xuất hiện các trung gian tài chính (ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng…). Tuy nhiên, nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng cao, nhất là nguồn vốn trung và dài hạn. Trong khi ñó, các trung gian tài chính không thể chủ ñộng ñáp ứng ñầy ñủ nhu cầu này. Mặt khác vì phạm vi lựa chọn phương án cho vay của chủ thể cung ứng vốn còn hạn hẹp.
Lãi suất ngân hàng không phải lúc nào cũng hấp dẫn người có tiền gửi tiền vào ngân hàng. Về phía người cần vốn cũng không phải luôn luôn dễ dàng vay vốn của ngân hàng, nhất là khi thực hiện các phương án ñầu tư có sự rủi ro và mạo hiểm cao. 8 Trong hoàn cảnh ñó, bằng cách tạo ra những công cụ tài chính, người cần vốn ñã tìm cách gặp trực tiếp những người thừa vốn. ðó có thể là giấy nợ hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu mà sau này ñược gọi là chứng khoán.
Bản thân những người nắm giữ chứng khoán ñầu tiên chưa nghĩ ñến chuyện mua ñi bán lại chúng. Nhưng sau này, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, một thị trường diễn ra các hoạt ñộng mua ñi bán lại những giấy tờ có giá ñã ñược hình thành. Thị trường tài chính theo ñúng nghĩa của nó xuất hiện từ ñó [31]. Vậy thị trường tài chính (TTTC) là gì? Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về TTTC: TTTC cũng ñược hiểu theo nghĩa chung nhất là: tất cả những nơi mà tại ñó diễn ra các hoạt ñộng trao ñổi liên quan tới nguồn lực tài chính (financial resources).
TTTC là thị trường trong ñó nguồn tài chính ñược chuyển từ người có vốn dư thừa sang người thiếu vốn thông qua một phương thức thị trường nào ñó. TTTC là tổng hoà các mối quan hệ cung cầu về vốn, là môi trường trong ñó hệ thống tài chính vận ñộng [31]. Nhà kinh tế học FREDERIC S.MISHKIN cho rằng: "TTTC là thị trường trong ñó vốn ñược chuyển từ những người hiện có dư thừa vốn sang những người thiếu vốn” [20, tr. Theo nghĩa ñó, TTTC tồn tại ở tất cả các nền kinh tế mà ở ñó tồn tại các quan hệ tiền tệ.
ðối tượng mua bán trên TTTC là một loại hàng hoá ñặc biệt - ñó là vốn. Từ những cách hiểu khác nhau về TTTC, chúng ta có thể thấy rằng khi ñề cập ñến TTTC không chỉ ñề cập tới phương thức giao dịch, công cụ tài chính ñược trao ñổi mà còn ñề cập tới các chủ thể tham gia thị trường và cơ chế giám sát. Việc chuyển ñổi quyền sở hữu và sử dụng các nguồn tài chính trên TTTC ñược thực hiện thông qua các phương thức giao dịch và các công cụ tài chính nhất ñịnh. TTTC là nơi phát hành, mua bán, trao ñổi và chuyển nhượng các công cụ tài chính theo các quy tắc, luật lệ ñã ñược quy ñịnh.
Vì vậy, có thể hiểu: Thị trường tài chính là nơi diễn ra việc chuyển giao các nguồn tài chính một cách trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các chủ thể kinh tế với nhau thông qua những phương thức giao dịch và công cụ tài chính nhất ñịnh nhằm thoả mãn quan hệ cung cầu về vốn và mục ñích kiếm lời. 9 Như vậy, ñối tượng mua bán trên TTTC là các nguồn tài chính ngắn hạn hay dài hạn, chúng ñược chuyển từ chủ thể thừa vốn sang chủ thể thiếu vốn thông qua các công cụ tài chính, ñó là các chứng khoán. Trước ñây, chứng khoán ñược hiểu là loại giấy tờ có giá, tức là một giấy chứng nhận khoản tiền mà người ta ñã ứng ra và có quyền ñược hưởng những khoản lợi tức nhất ñịnh theo kỳ hạn. Ví dụ: công trái do Nhà nước phát hành; các loại cổ phiếu, trái phiếu do các doanh nghiệp hay tổ chức tài chính phát hành và các dạng kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi,.Tuy nhiên, với sự phát triển của TTCK, chứng khoán không chỉ thể hiện dưới dạng các giấy tờ có giá mà còn có thể ghi lại trên hệ thống thiết bị ñiện tử, các quyền ñược mua cổ phiếu, trái phiếu theo những ñiều kiện nhất ñịnh ñã ñược thỏa thuận trước (chứng khoán phái sinh).
Do vậy, chứng khoán ñược hiểu rộng hơn, ñó là các chứng từ dưới dạng giấy tờ hoặc ghi trên hệ thống ñiện tử xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng từ ñó với người phát hành [10]. Chứng khoán là phương tiện huy ñộng, tập trung nguồn tài chính ñối với những chủ thể cần nguồn tài chính, là phương tiện ñầu tư ñể thu lời ñối với những chủ thể có thừa nguồn tài chính. Thu nhập mà nhà ñầu tư chứng khoán thu ñược bao gồm cả lợi tức thu ñược do bán quyền sử dụng nguồn tài chính và khoản lãi do bán lại chứng khoán cao hơn giá mua. Chủ thể tham gia TTTC là những pháp nhân hay thể nhân ñại diện cho những nguồn cung và cầu về vốn nhàn rỗi tham gia trên TTTC, chủ yếu là người tiết kiệm, các NHTM, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ ñầu tư, công ty môi giới, các doanh nghiệp, chính phủ, hộ gia ñình.2 Chức năng của thị trường tài chính Trong nền kinh tế thị trường, TTTC có các chức năng cơ bản sau ñây: 1.1 Dẫn nguồn tài chính từ những chủ thể có khả năng cung ứng nguồn tài chính ñến những chủ thể cần nguồn tài chính TTTC ñóng vai trò là kênh dẫn chuyển vốn từ nhà ñầu tư ñến nhà sản xuất; từ người cho vay - người tiết kiệm tới người vay - người chi tiêu.
Vì vậy, TTTC là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu nguồn tài chính, là nơi thu hút mạnh mẽ mọi nguồn tài chính nhàn rỗi, chuyển giao những nguồn này cho các nhu cầu ñầu tư phát triển nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh, hoặc thỏa mãn nhu cầu khác nhau của chủ thể 10 cần nguồn tài chính. TTTC ñược xem như cầu nối giữa tích lũy và ñầu tư, giữa người cung nguồn tài chính và người cần nguồn tài chính. Nó giúp họ gặp nhau cung ứng nguồn tài chính cho nhau dưới hình thức mua bán các chứng khoán, thông qua hai kênh tài trợ, ñó là: tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp [20]. TÀI CHÍNH GIÁN TIẾP CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH vốn vốn vốn Người cho vay vốn Người ñi vay vốn 1.
Hộ gia ñình THỊ 1. Hộ gia ñình 2. Doanh nghiệp vốn TRƯỜNG vốn 3. Chính phủ 3.
Chính phủ 4. Nước ngoài TÀI 4. Nước ngoài CHÍNH TÀI CHÍNH TRỰC TIẾP Sơ ñồ 1. Chức năng dẫn chuyển vốn của TTTC Nguồn: [20] FREDERIC S.MISHKIN (2001), Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính - NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
Ở kênh tài chính trực tiếp: người ñi vay, vay vốn trực tiếp từ người cho vay bằng cách bán chứng khoán (còn gọi là công cụ tài chính -financial instruments). Chứng khoán là những trái quyền (quyền ñược hưởng) ñối với thu nhập hoặc tài sản tương lai của người vay. Chứng khoán là tài sản có ñối với người mua chúng, chúng lại là tài sản nợ ñối với người hay doanh nghiệp phát hành. Ở kênh tài chính gián tiếp: vốn ñược chuyển từ người cho vay tới người vay thông qua trung gian tài chính.
Trung gian tài chính chuyển vốn từ người cho vay - người tiết kiệm sang người vay - người sử dụng và họ kiếm lời bằng cách ñưa ra mức lãi suất cao hơn mức lãi suất mà họ phải trả cho người gửi tiền.2 Cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán TTTC là nơi các chứng khoán ñược mua bán, trao ñổi. Bởi vậy, nhờ có TTTC (cụ thể là thị trường thứ cấp), các nhà ñầu tư có thể dễ dàng chuyển ñổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền hoặc thành các chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản (khả năng chuyển ñổi thành tiền) là một trong những yếu tố quyết ñịnh tính hấp dẫn của chứng khoán ñối với các nhà ñầu tư. Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán ñảm bảo cho TTTC hoạt ñộng năng ñộng, hiệu quả.3 Cung cấp thông tin kinh tế và ñánh giá giá trị doanh nghiệp Bằng những phương tiện kỹ thuật và thông tin hiện ñại, TTTC là nơi cung cấp kịp thời, chính xác những nguồn thông tin cần thiết có liên quan ñến việc mua bán các chứng khoán cho mọi thành viên của thị trường (thông tin về tình hình cung cầu từng loại chứng khoán trong những thời ñiểm nhất ñịnh, về tình hình phát triển kinh tế, về sự thay ñổi chính sách tài chính-tiền tệ…).
Mặt khác, TTTC (cụ thể là trên thị trường chính thức) bắt buộc các doanh nghiệp phải công bố các báo cáo tài chính, những thông tin về doanh nghiệp và phải ñảm bảo tính chính xác của các thông tin ñó. TTTC phản ánh “sức khỏe” của nền kinh tế quốc dân, phản ánh các xu hướng phát triển kinh tế. ðiều này có thể thấy ñược thông qua sự biến ñộng của chỉ số giá chứng khoán.