phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế thị trƣờng. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH PHI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.
Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Quan niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong nền kinh tế thị trƣờng, các doanh nghiệp là một phần không thể thiếu nếu nền kinh tế đó muốn hoạt động tốt. Do đó, muốn hiểu rõ thế nào là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trƣớc hết, ta phải làm rõ một vấn đề: Thế nào là doanh nghiệp. “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tƣ cách pháp nhân và đƣợc tổ chức ra để hoạt động sản xuất kinh doanh ở một lĩnh vực nhất định nhằm mục đích lợi nhuận (với doanh nghiệp vị lợi nhuận) hoặc đạt lợi ích xã hội 1 (với doanh nghiệp phi lợi nhuận) ”.
Hiện nay, trên thế giới có nhiều loại hình doanh nghiệp. Nếu căn cứ vào quy mô hoạt động, các doanh nghiệp đƣợc chia làm 2 loại hình: Doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các quy định để xác định quy mô của doanh nghiệp ở các quốc gia: - Số lƣợng lao động - Tổng nguồn vốn - Doanh thu bình quân hàng năm Trong đó, hai tiêu chuẩn đầu tiên đƣợc sử dụng phổ biến hơn cả. Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế cho rằng khó có thể đƣa ra một khái niệm chuẩn về các doanh nghiệp vừa và nhỏ vì quy mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và trong từng thời điểm nhất định.
Hơn nữa, cách xác định quy mô doanh nghiệp trong từng ngành nghề là khác nhau. Ví dụ nhƣ doanh 5 1 Trƣờng ĐH NH TPHCM - Khoa KT-KT Bộ môn tài chính – Tài chính doanh nghiệp – Nxb Thống kê 2009 6 nghiệp công nghiệp có thể coi là nhỏ trong khi một doanh nghiệp thƣơng mại cùng cỡ lại đƣợc coi là doanh nghiệp vừa hoặc lớn. Hiện nay, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (WB), các doanh nghiệp vừa và nhỏ đƣợc phân chia theo quy mô nhƣ sau: Bảng 1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của WB Đơn vị: USD Số lao Doanh thu Loại hình doanh nghiệp động Tổng tài sản hàng năm (ngƣời) Doanh nghiệp siêu nhỏ 1 < 0,1 triệu < 0,1 triệu 9 Doanh nghiệp nhỏ 1049 < 3 triệu < 3 triệu Doanh nghiệp vừa 50 300 < 15 triệu < 15 triệu (Nguồn: http://www.org) Đây là cách phân loại chung đƣợc Ngân hàng thế giới đƣa ra sau khi đã thu thập số liệu về các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Do đó, chúng ta có thể coi đây là một cách phân loại đáng tin cậy và khá chính xác. Tuy nhiên, do sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nƣớc phát triển với các nƣớc kém phát triển nên cách phân loại này chỉ còn phù hợp về tiêu chí số lƣợng lao động. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua ví dụ về phân loại doanh nghiệp trong liên minh các nƣớc châu Âu (EU). Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của EU (Đơn vị: EURO) Số lao Doanh thu Loại hình doanh nghiệp động Tổng tài sản hàng năm (ngƣời) Doanh nghiệp siêu nhỏ 1 < 2 triệu < 2 triệu 9 Doanh nghiệp nhỏ 1049 < 10 triệu < 10 triệu Doanh nghiệp vừa 50 249 < 50 triệu < 43 triệu Doanh nghiệp lớn > 250 >50 triệu > 43 triệu (Nguồn: http://www.
Đặc điểm chung của doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một thực thể kinh tế mang những đặc điểm riêng không giống bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế. Điều này cũng giải thích một cách chính xác sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra một số đặc điểm nổi bật của doanh nghiệp vừa và nhỏ mang lại cho các doanh nghiệp những ƣu thế nhất định nhƣ sau: - Quy mô nhỏ hơn các doanh nghiệp lớn giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ năng động, linh hoạt, thích ứng kịp thời với những biến động của thị trƣờng, có khả năng tiếp cận và đáp ứng những nhu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực tốt hơn các doanh nghiệp lớn, có thể tận dụng công nghệ, kỹ thuật mới kết hợp với sự đa dạng hóa về mặt hàng tạo điều kiện sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trƣờng để tăng khả năng cạnh tranh. - Bộ máy tổ chức sản xuất và quản lý đơn giản, gọn nhẹ, nên tiết kiệm phần lớn chi phí, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp.
- Vốn đầu tƣ vào khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thƣờng ít nhƣng khả năng huy động vốn đầu tƣ nhanh, tốc độ tăng trƣởng hàng năm cao. 8 Điều này đã thu hút một lƣợng vốn đầu tƣ đáng kể để hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. - Tạo điều kiện thu hút số lƣợng lớn lao động nhàn rỗi trong xã hội, giải quyết một phần không nhỏ tình trạng thất nghiệp trong nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng gặp nhiều khó khăn.
Hầu hết vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp này thấp hơn so với doanh nghiệp lớn, lợi nhuận giữ lại để tái đầu tƣ ít nên hạn chế khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh, áp dụng công nghệ kỹ thuật mới để hiện đại hóa sản xuất. Điều này làm giảm rõ rệt khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc thoả mãn nhu cầu thị trƣờng. Trong khi đó, vốn huy động từ thị trƣờng chứng khoán bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu lại khá xa vời do uy tín của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thấp, thị trƣờng tài chính không thực sự hoàn hảo làm nhà đầu tƣ ngần ngại khi bỏ vốn đầu tƣ, hơn nữa, lại bị hạn chế khi tiếp cận nguồn vốn của Ngân hàng thƣơng mại. Nguyên nhân chủ yếu là do vốn thấp, không có ngƣời bảo lãnh, không lập đƣợc phƣơng án kinh doanh khả thi.
Mặt khác, các doanh nghiệp lớn có điều kiện làm việc cũng nhƣ các ƣu đãi khác tốt hơn nên thu hút đƣợc nhiều lao động chất lƣợng cao. Thực tế này giải thích một phần tại sao năng suất lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thấp hơn so với các doanh nghiệp lớn. Đây cũng là hạn chế cho sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn do điều kiện cạnh tranh không bình đẳng khi mà quyền sở hữu trí tuệ và công nghiệp chƣa đƣợc thực hiện và công nhận một cách nghiêm túc, luôn tồn tại sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Từ những ƣu thế và hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ chúng ta có thể thấy vì sao ở hầu hết các nƣớc, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển đều có chiến lƣợc phát triển dài hạn các doanh nghiệp vừa và nhỏ - một xu thế của thời đại. Để làm đƣợc điều này, cần phải phát huy tối đa 9 các ƣu thế đồng thời khắc phục hiệu quả các hạn chế đối với loại hình doanh nghiệp này. Các dịch vụ tài chính phi tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khái niệm về dịch vụ tài chính Dịch vụ gắn liền với nền kinh tế thị trƣờng.
Dịch vụ tài chính phi tín dụng đóng góp vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nó giúp cho việc tăng cƣờng chuyên môn hóa trong nền kinh tế, đồng thời tạo ra sự thay đổi lớn trong việc xóa dần và chuyển độc quyền cung cấp dịch vụ của Nhà nƣớc sang các thành phần kinh tế khác; là quá trình làm gia tăng của sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Dịch vụ tài chính phi tín dụng bao hàm nhiều lĩnh vực đa dạng và phức tạp. Để hình thành quy tắc ứng xử chung về quan hệ thƣơng mại dịch vụ trong các nƣớc thành viên, Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) đã đƣa ra khái niệm dịch vụ tài chính nhƣ sau: “Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào mang bản chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính phi tín dụng khác (ngoại trừ bảo 2 hiểm).
Trong các loại hình dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất, gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng và ngƣợc lại, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Dịch vụ ngân hàng đã xuất hiện tại vùng Địa Trung Hải, cụ thể là tại Hy Lạp và La Mã, với dịch vụ đầu tiền là dịch vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng (vì vậy, 1 2 Trƣờng học viện ngân hàng – Khoa tài chính – Lý thuyết tiền tệ - Nxb thống kê 2009. 1 những ngân hàng loại này còn đƣợc gọi là ngân hàng thợ vàng), đổi ngoại tệ lấy bản tệ và dịch vụ chiết khấu thƣơng phiếu giúp các nhà buôn có vốn.
Việc lƣu hành những đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ kết hợp với thƣơng mại và giao lƣu quốc tế tạo ra yêu cầu đúc và đổi tiền tại các cửa khẩu hoặc trung tâm thƣơng mại. Ngƣời làm nghề đúc, đổi tiền, thực hiện kinh doanh tiền tệ bằng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngƣợc lại. Lợi nhuận thu đƣợc là từ chênh lệch giá mua - bán.