Chương 1: Tổng quan về vai trò nhà nước trong bối cảnh hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức Chương 2: Vai trò của nhà nước trong bước chuyển sang thời đại kinh tế tri thức ở Singapore Chương 3: Bài học kinh nghiệm của Singapore đối với Việt Nam nhằm phát huy vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế và từng bước chuyển sang thời đại kinh tế tri thức 9 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ NHÀ NƢỚC TRONG BỐI CẢNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ TRI THỨC 1. KHÁI LƢỢC CHUNG VỀ VAI TRÒ NHÀ NƢỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1. Tính tất yếu khách quan của vai trò nhà nƣớc trong nền kinh tế thị trƣờng Kinh tế thị trường xuất hiện trong lịch sử là một tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia, mọi dân tộc, là kết quả của quá trình phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa đến trình độ cao. Trong nền kinh tế thị trường, việc sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai, là do thị trường quyết định.
Trong lịch sử, đã từng tồn tại nhiều kiểu kinh tế thị trường khác nhau như: kinh tế thị trường dạng cổ điển (Hà Lan, Anh), kinh tế thị trường kiểu Mỹ, kinh tế thị trường kiểu Pháp, kinh tế thị trường kiểu Phổ.v… Trong những kiểu kinh tế thị trường khác nhau đó, mặc dù có những khác biệt về nhiều mặt nhưng trên thực tế, chưa bao giờ tồn tại dạng kinh tế thị trường hoàn toàn không có nhà nước, thoát ly khỏi nhà nước. Nhà nước luôn là một bộ phận cơ hữu nằm trong cấu trúc tổng thể của kinh tế thị trường và sự tồn tại của nhà nước trong cấu trúc đó là một tất yếu khách quan, vừa với tư cách là một chủ thể sở hữu bên cạnh các chủ thể sở hữu khác, vừa với tư cách là một chủ thể quản lý. Sự khác biệt của vai trò nhà nước giữa các giai đoạn lịch sử và giữa các quốc gia chỉ nằm ở chỗ tính chất của nhà nước như thế nào và cách thức can thiệp, điều tiết của nhà nước ra sao cũng như hệ quả của cách thức can thiệp, quản lý đó dẫn đến sự phát triển hay suy bại của nền kinh tế thị trường mà thôi. Vì vậy, việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường luôn là bài toán đặt ra cho các nhà nước trong mọi thời đại.
Nhưng, “ranh giới giữa nhà nước và thị trường không thể được phân định dứt khoát bởi một số cuộc hội thảo ôn hòa. Đây là chủ đề của các cuộc chiến lớn nhỏ về trí tuệ và chính trị trong suốt một thế kỷ. Các cuộc chiến nói chung đã tạo nên một trong những vở kịch lớn định hình thế kỷ XX. Ngày nay, mâu thuẫn giữa thị trường và sự kiểm 1 soát của nhà nước đã trở nên sâu rộng đến mức đang làm thay đổi cả thế giới và làm nền cho thế kỷ XXI” [3].
Sự thành công hay thất bại của các quốc gia trong tiến trình phát triển kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào tính hiệu quả hay kém hiệu quả của sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động khách quan của thị trường. Và ngược lại, sự phát triển của kinh tế thị trường tất yếu sẽ kéo theo những biến đổi trong cung cách can thiệp của nhà nước. Từ thế kỷ XV, chủ nghĩa tư bản bắt đầu xuất hiện cùng với quá trình tích lũy nguyên thủy, kéo theo đó, nền kinh tế thị trường từng bước được hình thành. Nhà nước lúc đó đóng vai trò vai trò như “bà đỡ” cho sự ra đời của kinh tế thị trường.
Nhà nước khi đó đã sử dụng những chính sách, biện pháp nghiêm ngặt để tích lũy tiền tệ, ngăn cấm xuất khẩu tiền tệ, kiểm tra, kiểm soát ngoại thương, lập hàng rào thuế quan cao và đánh thuế nặng vào các mặt hàng được nhập khẩu từ nước ngoài, kiểm soát tỷ giá hối đoái, hỗ trợ thương nhân trong nước bằng nhiều chính sách như chính sách lãi suất. Nhờ đó, các nước tư bản đã tích lũy được lượng của cải đáng kể để tập trung cho sản xuất, phát triển khoa học - kỹ thuật và làm cho nền sản xuất ở các nước tư bản phát triển rất nhanh, đẩy mạnh trao đổi hàng hóa, đặc biệt là mở rộng quan hệ thương mại ra khỏi biên giới quốc gia. Đến cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, tự do cạnh tranh đã trở thành xu thế tất yếu do sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các nước tư bản. Để đạt được cán cân xuất siêu, bản thân nhà nước cũng phải điều chỉnh, thay đổi cách can thiệp cho phù hợp với tình hình kinh tế mới.
Thay vì sử dụng những giải pháp mang nặng tính hành chính, nhà nước dần gia tăng các giải pháp mang tính kinh tế. Sự nhận thức về kinh tế thị trường là không gian kinh tế mở và cạnh tranh đã đưa đến quan điểm “nhà nước không can thiệp vào nền kinh tế” [21], mọi hoạt động của nền kinh tế nên để “bàn tay vô hình” của thị trường quyết định, cũng giống như trong y học, người thầy thuốc không được can thiệp một cách áp đặt đối với con bệnh mà trước tiên, phải tôn trọng những quy luật có tính sinh học trong cơ thể con người [21]. Điều này được thể hiện rõ nét trong quan điểm của các nhà kinh 1 tế học thuộc trường phái cổ điển như William Petty, Adam Smith, Ricardo.v…Theo quan điểm của Adam Smith, trong một nền kinh tế mà ở đó mọi hoạt động kinh tế được điều tiết, dẫn dắt bởi “bàn tay vô hình” là thị trường thì vai trò kinh tế của nhà nước sẽ tập trung vào các chức năng chính: (1) Nhà nước chăm lo cho quốc phòng, đảm bảo môi trường hòa bình, tránh để xảy ra nội chiến và ngoại xâm. Để thực hiện nghĩa vụ này, nhà nước cần phải có chỗ dựa về tài chính.
Tuy nhiên, tài chính để phục vụ cho quốc phòng không thể được giải quyết một cách tùy tiện theo quyền lực chính trị của bản thân nhà nước mà phải dựa vào khả năng sinh lợi của nền kinh tế. (2) Tạo lập một môi trường pháp lý nhằm hình thành một khuôn khổ luật pháp để các doanh nghiệp và cá nhân tham gia các hoạt động kinh tế. Đây là hoạt động có tính chất nền tảng, chi phí không cao nhưng lại vô cùng quan trọng đối với xã hội. Bằng hệ thống luật pháp của mình, nhà nước phải đảm bảo các quyền cơ bản cho từng công dân, ví dụ như quyền sở hữu cá nhân, trên cơ sở đó, đảm bảo những quyền khác như quyền tự do tiêu dùng, tự do ký kết các hoạt động kinh doanh…Nhà nước dùng hệ thống luật pháp để kiểm soát các trật tự xã hội, ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh và các thủ đoạn kinh tế phi đạo đức.
Ngoài ba chức năng này thì theo các nhà kinh tế học cổ điển, các hoạt động kinh tế khác nên để cho thị trường tự quyết định. Từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX, các cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra ngày càng thường xuyên hơn, đặc biệt là cuộc khủng hoảng 1929 -1933 đã chứng tỏ “Bàn tay vô hình” không thể đảm bảo những điều kiện ổn định cho kinh tế thị trường phát triển.Từ đó đã dẫn đến những tư duy mới về vai trò nhà nước, thể hiện trong lý thuyết “Nhà nước điều tiết kinh tế thị trường” của Maynard Keynes. Tác động của khủng hoảng kinh tế đã chứng minh cơ chế thị trường không phải là hoàn hảo, nền kinh tế thị trường không có khả năng tự điều tiết tuyệt đối và vô 1 hạn và sự can thiệp của nhà nước để khắc phục các khuyết tật của thị trường là thực sự cần thiết. Muốn thoát khỏi khủng hoảng, hạn chế thất nghiệp và suy thoái, trước hết nhà nước cần trực tiếp điều tiết thông qua chương trình chi tiêu công và dùng những chương trình này để kích thích và duy trì tốc độ gia tăng ổn định của tổng cầu, qua đó kích thích sản xuất, giải quyết vấn đề thất nghiệp và đạt được mục tiêu tăng trưởng.
Ở tầm vi mô, nhà nước trực tiếp thành lập các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ công cộng. Trên thực tế, lý thuyết của Keynes đã góp phần giúp các nước tư bản khôi phục lại nền kinh tế sau đại suy thoái 1929 – 1933. Nhưng bắt đầu từ cuối thập kỷ 60 cho đến giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX, hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa lại phải đối mặt với dấu hiệu của các cuộc khủng hoảng mới. Nguyên nhân chủ yếu của các cuộc khủng hoảng này xuất phát từ việc hầu hết các nhà nước phương Tây đã áp dụng một cách cực đoan, thái quá công thức điều tiết chủ quan của Keynes.
Trong quá trình gia tăng chương trình kinh tế công cộng, các nước phương Tây đã đưa vào lưu thông số lượng tiền tệ ngày càng lớn, làm xuất hiện hiện tượng “thừa tiền”, đẩy nền kinh tế đứng trước nguy cơ lạm phát. Thực tế đó đã đòi hỏi cần phải nhìn nhận và đánh giá lại vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã gây ra những hậu quả nặng nề không chỉ trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, mà còn đánh dấu bước ngoặt xuống dốc thời kỳ hoàng kim của chủ nghĩa tư bản tự do. Nếu như sự lạm dụng cho vay dưới chuẩn và sự bùng nổ các công cụ nợ phái sinh trên thị trường tài chính toàn cầu đã gây ra tình trạng đầu cơ quá mức và mất khả năng thanh toán trên thị trường bất động sản (vượt ra khỏi sự dự báo và kiểm soát của chính phủ) ở Mỹ là căn nguyên trực tiếp, thì chính các thể chế thị trường tự do cao độ, thiên vị các lợi ích cá nhân và cục bộ, nới lỏng kiểm soát ở Mỹ mới là căn nguyên sâu xa gây ra khủng hoảng.
Trong bối cảnh đó, Mỹ đã phải áp dụng các biện pháp chống khủng hoảng khẩn cấp (bỏ ra 700 tỉ USD để quốc hữu hoá các ngân hàng và các hãng bảo hiểm lớn nhất thế giới; thành lập một quỹ đặc biệt để mua lại các thương phiếu do các 1 doanh nghiệp Mỹ phát hành), tức là phải “chủ động sử dụng bàn tay Nhà nước một cách tích cực”.“Liệu pháp bàn tay nhà nước” lan rộng nhanh chóng đến một loạt nước có nền kinh tế thị trường phát triển như Anh, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Pháp, Đức, Nhật, Iceland [17].