Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về vai trò của Nhà nước đối với đầu tư công Chương 2: Thực trạng vai trò của Nhà nước đối với đầu tư công ở Việt Nam Chương 3: Quan điểm định hướng và một số kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước đối với đầu tư công ở Việt Nam. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƢ CÔNG 1. Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế. 6 Vai trò của Nhà nƣớc trong nền kinh tế là chủ đề đã đƣợc bàn thảo rất nhiều trong quá trình phát triển của khoa kinh tế học.
Là một phạm trù lịch sử, do vậy nó biến đổi theo thời gian và không gian, cùng với quá trình thay thế của các hình thái kinh tế xã hội của con ngƣời. Thực tiễn phát triển của nền kinh tế thế giới cho đến nay đã khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của Nhà nƣớc trong quản lý, điều hành nền kinh tế. Tuy nhiên, vai trò của Nhà nƣớc đến đâu, phạm vi và mức độ tác động nhƣ thế nào lại cần đƣợc xem xét trong những bối cảnh cụ thể và tuỳ thuộc vào tính chất nội tại của bản thân nền kinh tế đó. Nội dung trọng tâm của các nghiên cứu về vai trò của Nhà nƣớc trong lịch sử phát triển của các học thuyết kinh tế là mối quan hệ giữa Nhà nƣớc và thị trƣờng.
Ban đầu, các nhà kinh tế tiêu biểu thuộc Trường phái kinh tế chính trị học cổ điển nhƣ Adam Smith (1723-1790) quá đề cao tính tự điều chỉnh của nền kinh tế thị trƣờng và cho rằng nguyên tắc tối thƣợng của hoạt động kinh tế là tự do, Nhà nƣớc không nên can thiệp vào thị trƣờng.Smith cho rằng hoạt động của nền kinh tế là do các quy luật khách quan tự phát chi phối và phát triển kinh tế cần theo nguyên tắc tự do, Nhà nƣớc không nên can thiệp vào. Trong cuốn sách nổi tiếng nhất của mình “Của cải của các dân tộc”, Smith đã đƣa ra nguyên lý “Bàn tay vô hình”. Theo nguyên lý này thì phúc lợi kinh tế của xã hội chỉ đạt đƣợc tối ƣu khi mỗi ngƣời đều hành động vì lợi ích riêng của mình. Vì vậy Nhà nƣớc không nên can thiệp vào nền kinh tế thị trƣờng, vào hoạt động của các doanh nghiệp.
Vai trò của Nhà nƣớc chỉ nên giới hạn ở việc bảo vệ quyền sở hữu tƣ bản, bảo đảm an ninh đối nội, đối ngoại và muốn xã hội giàu có thì phải phát triển kinh tế theo tinh thần tự do. Sau này, Trường phái kinh tế chính trị học tân cổ điển, mà đại biểu là nhà kinh tế Thụy Sỹ L.Wallras (1834-1910) đã phát triển tƣ tƣởng “Bàn tay vô hình” của Smith về tự do kinh tế với lý thuyết cân bằng tổng quát. Trong giai đoạn đầu, phái Tân cổ điển ủng hộ tƣ tƣởng tự do cạnh tranh, chống sự can thiệp của Nhà nƣớc vào nền kinh tế. Theo họ, cơ chế thị trƣờng sẽ tự phát bảo đảm cân bằng cung cầu để nền kinh tế phát triển bình thƣờng, tránh đƣợc khủng hoảng kinh tế.
Nhƣng khi nền kinh tế tự do cạnh tranh phát triển đến một mức độ nào đó tất yếu dẫn đến độc quyền và chủ nghĩa tƣ bản rơi vào khủng hoảng mới trầm trọng, sâu sắc hơn. Các vấn đề nhƣ lạm phát, thất nghiệp v. nảy sinh ngày một nhiều buộc các nhà kinh tế phải có những nghiên cứu mới. Lúc này, phái 7 Tân cổ điển cho rằng để tăng phúc lợi kinh tế, trong điều kiện độc quyền, Nhà nƣớc càng cần có những sự can thiệp thích hợp.
Chính vì vậy, các trƣờng phái kinh tế học đề cao vai trò điều chỉnh kinh tế của Nhà nƣớc, thậm chí tuyệt đối hóa vai trò của Nhà nƣớc với những mức độ khác nhau đã ra đời mà tiêu biểu là các học thuyết của nhà kinh tế chính trị học ngƣời Anh John Maynard Keynes(1883 – 1946). Ngƣợc lại với quan điểm của Smith, Keynes cho rằng Nhà nƣớc có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Ông đã xây dựng và phát triển Lý thuyết về nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước. Trong tác phẩm “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ”, Keynes cho rằng các vấn đề nhƣ khủng hoảng, thất nghiệp không phải là hiện tƣợng nội sinh của chủ nghĩa tƣ bản mà là do chính sách lỗi thời, bảo thủ, thiếu sự can thiệp của Nhà nƣớc.
Ông cho rằng để đảm bảo cho sự tăng trƣởng cân bằng của nền kinh tế, thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp thì không thể dựa vào cơ chế tự điều tiết của thị trƣờng mà cần phải có sự can thiệp của Nhà nƣớc thông qua các chƣơng trình quy mô lớn. “Bàn tay hữu hình” của chính phủ sẽ chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề kích thích sản xuất, tiêu dùng, kích thích đầu tƣ để đảm bảo việc làm và tăng thu nhập. Muốn vậy phải sử dụng ngân sách Nhà nƣớc để kích cầu đầu tƣ tƣ nhân thông qua các đơn đặt hàng của Nhà nƣớc, hệ thống mua của Nhà nƣớc, trợ cấp về tài chính, tín dụng do ngân sách Nhà nƣớc đảm bảo, để tạo sự ổn định về lợi nhuận và đầu tƣ cho tƣ bản độc quyền. Có thể thấy, học thuyết Keynes đã khẳng định tính chất bất ổn của thị trƣờng và chỉ ra những công cụ của chính sách vĩ mô mà Nhà nƣớc có thể sử dụng để can thiệp tích cực vào hoạt động của thị trƣờng.
Học thuyết này giữ vị trí thống trị trong hệ thống tƣ tƣởng kinh tế tƣ sản trong một thời gian dài kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II cho đến cuối những năm 1960 đầu 1970 và nó đƣợc vận dụng vào hầu hết các nƣớc tƣ bản phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế ở các quốc gia này. Tuy nhiên, cho đến những năm 1970, học thuyết kinh tế của Keynes cũng bộc lộ những khiếm khuyết khi vai trò của Nhà nƣớc trong việc điều chỉnh thị trƣờng, can thiệp vào nền kinh tế trở nên tiêu cực. Mặc dù, mức độ can thiệp của Nhà nƣớc vào thị trƣờng ở các quốc gia là khác nhau nhƣng với vai trò quá lớn, đồng thời là cơ quan quyết định 7 các luật lệ và chính sách nên bộ máy Nhà nƣớc vừa có nguy cơ phình ra, vừa dễ phạm sai lầm 8 duy ý chí, chủ quan, xa rời thực tế, tham ô, tham nhũng, đục khoét ngân sách, gây trì trệ trong sản xuất kinh doanh, làm tổn hại đến nền kinh tế. Cũng trong giai đoạn này, ở những nƣớc phát triển kinh tế theo con đƣờng kế hoạch hóa tập trung, vai trò của Nhà nƣớc còn đƣợc nâng lên ở mức độ tuyệt đối.
Với quan điểm cho rằng thị trƣờng không thể đảm bảo phân phối hợp lý các nguồn lực và của cải của xã hội, không thể điều tiết hợp lý quá trình phát triển của nền kinh tế, vì vậy Nhà nƣớc phải tính toán và tổ chức thực hiện những phƣơng án tối ƣu cho sự phân phối, từ phân phối các nguồn lực sản xuất, quy định cơ cấu sản xuất, cho đến phân phối hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cho đến tận từng cá nhân. Nhà nƣớc trực tiếp thực hiện đầu tƣ phát triển và quy định hầu hết mọi hoạt động kinh tế nên thị trƣờng và khu vực tƣ nhân chỉ có vai trò thứ yếu trong nền kinh tế. Sự can thiệp sâu rộng của Nhà nƣớc trong một giai đoạn nhất định đã góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng do tập trung đƣợc tƣ bản đầu tƣ vào một số lĩnh vực quan trọng, đóng vai trò là nền tảng cho các ngành công nghiệp khác tăng trƣởng. Tuy nhiên, việc tuyệt đối hóa vai trò điều khiển toàn bộ nền kinh tế từ một trung tâm chính trị là Nhà nƣớc và phủ nhận hoàn toàn vai trò của thị trƣờng, những sai lầm trong tính toán phƣơng hƣớng đầu tƣ cũng nhƣ tình trạng quan liêu của bộ máy điều khiển nền kinh tế đã dẫn đến những sai lầm và tình trạng suy thoái.
Hậu quả là sự sụp đổi của hệ thống kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở Đông Âu và Liên Xô những năm 1980. Việc chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng là sự kiện cho thấy sự thất bại của mô hình này. Trong bối cảnh mà sự can thiệp của Nhà nƣớc vào nền kinh tế dẫn đến thất bại ngày càng phổ biến và trầm trọng cả ở các nƣớc phát triển và đang phát triển, nƣớc theo mô hình kế hoạch hoá tập trung hay theo con đƣờng tƣ bản chủ nghĩa, các nhà kinh tế học cũng nhƣ các nhà hoạch định chính sách buộc phải xem lại quan điểm quá chú trọng vào vai trò điều tiết của Nhà nƣớc. Họ công nhận rằng về bản chất thì thị trƣờng có những khiếm khuyết nhƣng sự can thiệp thái quá của Nhà nƣớc cũng khiến cho hoạt động của thị trƣờng thiếu lành mạnh và đôi khi bị biến dạng.
Nhìn chung, thất bại của Nhà nƣớc là do việc thiếu năng lực điều chỉnh và thực hiện chiến lƣợc, chính sách đã đề ra. Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thất bại của Nhà nƣớc có thể kể đến là: Thứ nhất, do sự xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội (mà Nhà 8 nƣớc chỉ có thể đại diện cho một giai cấp nhất định); Thứ hai, do mâu thuẫn giữa mục tiêu tăng trƣởng kinh tế và đảm bảo thực hiện công bằng xã hội, phát triển bền vững và phát triển con ngƣời. Nhà nƣớc với tƣ cách là cơ quan quyền lực cao nhất phải đƣa ra những quyết định về phát triển kinh tế nhƣng đôi khi những quyết định này đi ngƣợc với các quan điểm về mục tiêu xã hội do hệ tƣ tƣởng cũng nhƣ các tiêu chí về giá trị, phúc lợi xã hội, văn hoá, đạo đức v.của các nhóm lợi ích là khác nhau. Ngay cả khi mục tiêu xã hội đã đƣợc thừa nhận (nhƣ hạn chế chênh lệch giàu nghèo quá mức) thì các biện pháp hỗ trợ đƣa ra (thuế, trợ cấp) vẫn có thể làm hạn chế hoặc triệt tiêu các kích thích lợi ích - động lực của các hoạt động kinh tế thị trƣờng; Thứ ba, do thất bại trong việc thực hiện chính sách.
Một chính sách đƣợc Nhà nƣớc đƣa ra thƣờng có độ trễ trong thực hiện và tác động chính sách.