Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Tam Nông, Phú Thọ

Vai trò quan trọng của người dân trong việc xây dựng nông thôn mới tại Tam Nông, đóng góp vào phát triển kinh tế và nâng cao đời sống cộng đồng.

Trường đại học

Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2013

81
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Vai trò người dân Nền tảng xây dựng nông thôn mới Tam Nông

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM) là một cuộc cách mạng toàn diện, có mục tiêu thay đổi căn bản bộ mặt kinh tế - xã hội khu vực nông thôn Việt Nam. Tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, chương trình này đã được triển khai mạnh mẽ, trong đó yếu tố con người được xác định là then chốt. Vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng chương trình nông thôn mới không chỉ dừng lại ở việc là đối tượng hưởng lợi, mà còn là chủ thể trực tiếp quyết định sự thành công và bền vững của chương trình. Nguyên tắc cốt lõi “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân hưởng thụ” đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động, khẳng định tầm quan trọng của việc phát huy nội lực từ cộng đồng. Sự tham gia của người dân được thể hiện xuyên suốt, từ khâu lập quy hoạch, đóng góp nguồn lực, triển khai thi công, đến giám sát chất lượng và quản lý, vận hành công trình sau khi hoàn thành. Việc huy động sức mạnh toàn dân không chỉ giúp giải quyết bài toán về nguồn vốn mà còn tạo ra sự đồng thuận xã hội, nâng cao ý thức trách nhiệm và tinh thần làm chủ của mỗi người dân đối với sự phát triển của quê hương. Nghiên cứu thực tiễn tại huyện Tam Nông giai đoạn 2010-2013 cho thấy, nơi nào phát huy tốt quyền làm chủ của người dân, nơi đó chương trình NTM đạt được những kết quả vượt bậc, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về hạ tầng, kinh tế và văn hóa.

1.1. Chương trình NTM Từ chủ trương đến thực tiễn tại Phú Thọ

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qua Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg, đặt ra 19 tiêu chí toàn diện. Tại tỉnh Phú Thọ nói chung và huyện Tam Nông nói riêng, chủ trương này được cụ thể hóa thành các đề án, kế hoạch chi tiết, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Mục tiêu không chỉ là bê tông hóa đường làng, ngõ xóm mà còn là nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống văn hóa tinh thần, và bảo vệ môi trường sinh thái. Quá trình triển khai tại Tam Nông đã cho thấy sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhưng động lực chính vẫn đến từ sự hưởng ứng và tham gia tích cực của cộng đồng dân cư.

1.2. Nguyên tắc Dân biết dân bàn Nền tảng cốt lõi của sự tham gia

Nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi” là cơ sở để phát huy dân chủ ở cơ sở. “Dân biết” đòi hỏi sự công khai, minh bạch về mọi chủ trương, quy hoạch, kế hoạch sử dụng nguồn lực. “Dân bàn” là tạo điều kiện để người dân thảo luận, đóng góp ý kiến, quyết định những vấn đề trực tiếp liên quan đến cộng đồng. Tài liệu nghiên cứu cho thấy, tại các xã của huyện Tam Nông, việc tổ chức các cuộc họp thôn, xóm để lấy ý kiến về quy hoạch đường giao thông hay xây dựng nhà văn hóa đã trở thành một hoạt động thường xuyên, đảm bảo mọi quyết sách đều xuất phát từ nhu cầu và nguyện vọng thực tế của người dân, tránh tình trạng áp đặt từ trên xuống.

II. Những khó khăn hạn chế vai trò người dân xây dựng NTM Tam Nông

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, quá trình phát huy vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng chương trình nông thôn mới tại huyện Tam Nông vẫn đối mặt với không ít thách thức. Một trong những khó khăn lớn nhất là nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế, vẫn còn tồn tại tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước. Họ chưa thực sự hiểu rõ mình là chủ thể của chương trình. Điều này dẫn đến sự tham gia đôi khi còn mang tính hình thức, chưa chủ động, sáng tạo. Bên cạnh đó, việc huy động nguồn lực từ cộng đồng, đặc biệt là đóng góp tài chính, gặp nhiều khó khăn ở các xã có điều kiện kinh tế chưa phát triển, tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Năng lực của một số cán bộ cơ sở trong công tác dân vận, tuyên truyền, và tổ chức các hoạt động cộng đồng còn yếu, chưa đủ sức thuyết phục và khơi dậy tiềm năng trong dân. Tài liệu nghiên cứu chỉ ra tình trạng “hành chính hóa, phô trương, hình thức” trong một số hoạt động, làm giảm hiệu quả thực chất của sự tham gia. Thêm vào đó, cơ chế giám sát của cộng đồng đối với các công trình xây dựng đôi khi chưa được thực hiện hiệu quả, dẫn đến những lo ngại về chất lượng và tính minh bạch trong quản lý đầu tư.

2.1. Thách thức trong việc huy động nguồn lực từ cộng đồng dân cư

Việc huy động nguồn lực trong dân là một bài toán khó. Mặc dù người dân sẵn sàng đóng góp ngày công lao động, hiến đất làm đường, nhưng việc đóng góp bằng tiền mặt còn hạn chế do mức thu nhập bình quân đầu người ở nhiều xã còn thấp. Theo khảo sát tại Tam Nông, tỷ lệ đóng góp kinh phí cho các công trình công cộng có sự chênh lệch lớn giữa các xã và các hộ gia đình. Điều này đòi hỏi chính quyền địa phương phải có phương pháp vận động linh hoạt, phù hợp với điều kiện kinh tế của từng khu vực, tránh tình trạng huy động cào bằng gây áp lực cho người dân, đặc biệt là các hộ nghèo và cận nghèo.

2.2. Hạn chế về nhận thức và năng lực tham gia của người dân

Nhận thức là yếu tố quyết định hành động. Một bộ phận người dân chưa nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình trong xây dựng NTM. Sự tham gia đôi khi chỉ dừng lại ở mức độ “thụ động” hoặc “tham gia bởi nghĩa vụ”, tức là làm theo sự vận động của chính quyền mà chưa xuất phát từ sự tự nguyện và ý thức tự giác. Năng lực tham gia vào các khâu phức tạp hơn như lập kế hoạch, giám sát kỹ thuật công trình của người dân còn hạn chế do thiếu kiến thức chuyên môn. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của công tác đào tạo, tập huấn để nâng cao năng lực cho cộng đồng, giúp họ tham gia một cách hiệu quả và thực chất hơn.

III. Cách người dân đóng góp nguồn lực và phát triển kinh tế NTM

Sự thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới tại Tam Nông mang đậm dấu ấn từ sự đóng góp của người dân. Đây là minh chứng rõ nét cho phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Vai trò của người dân được thể hiện mạnh mẽ qua việc đóng góp đa dạng các nguồn lực. Về vật chất, người dân đã tự nguyện hiến hàng nghìn mét vuông đất để mở rộng đường giao thông, đóng góp hàng chục nghìn ngày công lao động để xây dựng, tu sửa kênh mương, nhà văn hóa. Bảng 3.24 trong tài liệu gốc ghi nhận chi tiết tình hình đóng góp công lao động, cho thấy sức mạnh nội lực to lớn từ cộng đồng. Về tài chính, tuy còn khó khăn, các hộ gia đình vẫn tích cực đóng góp kinh phí theo tinh thần tự nguyện để xây dựng các công trình phúc lợi chung. Ngoài ra, vai trò của người dân còn thể hiện ở việc chủ động phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập. Người dân tích cực tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ vào trồng trọt, chăn nuôi (Bảng 3.20). Các mô hình kinh tế trang trại, gia trại, hợp tác xã kiểu mới được hình thành, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị, trực tiếp cải thiện đời sống và tạo nguồn lực tái đầu tư cho xây dựng NTM.

3.1. Hiến đất góp công Sức mạnh nội lực trong phát triển hạ tầng

Phát triển hạ tầng là một trong những mục tiêu hàng đầu của chương trình NTM. Tại huyện Tam Nông, phong trào hiến đất làm đường đã lan tỏa mạnh mẽ. Nhiều gia đình đã không ngần ngại hiến một phần đất ở, đất vườn để con đường làng được mở rộng khang trang. Bên cạnh đó, việc đóng góp ngày công lao động trực tiếp vào các công trình đã giúp tiết kiệm chi phí đầu tư, đồng thời nâng cao ý thức sở hữu và trách nhiệm bảo quản của người dân. Chính những đóng góp này đã tạo nên diện mạo mới cho hạ tầng giao thông, thủy lợi, góp phần thúc đẩy sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống.

3.2. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế Người dân làm chủ sản xuất

Xây dựng NTM gắn liền với việc phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập. Người dân Tam Nông đã chủ động tìm tòi, học hỏi các mô hình sản xuất hiệu quả, tham gia các hình thức tổ chức sản xuất mới như hợp tác xã, tổ hợp tác (Bảng 3.23). Việc chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất tập trung, theo hướng hàng hóa đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Người dân không chỉ là người lao động mà đã dần trở thành những người chủ thực sự trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quyết định hướng đi cho kinh tế gia đình và địa phương.

IV. Phương pháp người dân tham gia quyết định và giám sát NTM

Việc đảm bảo quyền dân chủ trực tiếp là yếu tố sống còn để chương trình NTM thực sự “của dân, do dân và vì dân”. Tại huyện Tam Nông, vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng chương trình nông thôn mới được thể hiện rõ nét qua cơ chế tham gia vào quá trình ra quyết định và giám sát. Ngay từ khâu lập quy hoạch, đề án xây dựng NTM của các xã đều được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân thông qua các cuộc họp thôn, xóm. Bảng 3.17 trong tài liệu nghiên cứu cho thấy mức độ tham gia của người dân trong việc ra các quyết định là khá cao. Người dân được trực tiếp bàn bạc, biểu quyết lựa chọn công trình nào cần ưu tiên làm trước, mức đóng góp ra sao, và phương án thực hiện như thế nào. Không chỉ dừng lại ở việc quyết định, người dân còn đóng vai trò quan trọng trong khâu kiểm tra, giám sát. Các Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng được thành lập, bao gồm những người có uy tín trong thôn, xóm. Họ trực tiếp giám sát chất lượng vật liệu, tiến độ thi công và tính minh bạch của các công trình công cộng. Hoạt động này, được ghi nhận qua Bảng 3.26, đã góp phần đảm bảo chất lượng công trình, chống lãng phí, tiêu cực và củng cố niềm tin của nhân dân vào chương trình.

4.1. Thực thi dân chủ cơ sở trong quy hoạch và lập kế hoạch NTM

Việc lập kế hoạch xây dựng NTM không còn là công việc riêng của cán bộ xã. Thông qua các buổi họp dân, mỗi người dân đều có quyền đóng góp ý kiến về bản đồ quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch khu dân cư, hay kế hoạch phát triển sản xuất. Các ý kiến này được Ban chỉ đạo NTM xã tổng hợp, tiếp thu và điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp. Quá trình này đảm bảo các kế hoạch khi được ban hành đều sát với thực tiễn và nhận được sự đồng thuận cao từ cộng đồng, tạo tiền đề thuận lợi cho việc triển khai thực hiện.

4.2. Giám sát cộng đồng Đảm bảo chất lượng các công trình hạ tầng

Ban Giám sát cộng đồng là một thiết chế quan trọng, là “tai mắt” của người dân. Tại các xã ở Tam Nông, Ban Giám sát tham gia từ khi công trình bắt đầu triển khai đến khi nghiệm thu, bàn giao. Họ kiểm tra chủng loại, số lượng vật tư; giám sát quy trình kỹ thuật thi công; và có quyền kiến nghị dừng thi công nếu phát hiện sai phạm. Nhờ cơ chế giám sát này, nhiều công trình đường giao thông, nhà văn hóa đã được đảm bảo chất lượng, đúng thiết kế, phát huy hiệu quả sử dụng lâu dài, và quan trọng hơn là người dân cảm thấy công trình đó thực sự là của mình.

V. Đánh giá kết quả thực tiễn từ sự tham gia của người dân Tam Nông

Sự tham gia tích cực của người dân đã mang lại những kết quả thực tiễn, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt nông thôn huyện Tam Nông. Vai trò của người dân chính là động lực tạo nên những thành tựu này. Về hạ tầng kinh tế - xã hội, hàng trăm km đường giao thông nông thôn, đường nội đồng đã được cứng hóa; hệ thống thủy lợi được kiên cố hóa; trường học, trạm y tế, nhà văn hóa được xây dựng khang trang. Những công trình này không chỉ phục vụ sản xuất, dân sinh mà còn làm thay đổi cảnh quan môi trường. Về kinh tế, thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo giảm qua từng năm. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ ngày càng rõ nét. Đời sống văn hóa, tinh thần của người dân được cải thiện, các giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy. Đặc biệt, kết quả quan trọng nhất là sự thay đổi trong nhận thức. Người dân đã tự tin hơn, chủ động hơn và có ý thức trách nhiệm cao hơn với cộng đồng. Bảng 3.29 của tài liệu gốc cho thấy mức độ hài lòng của người dân đối với việc thực hiện chương trình NTM là khá cao, đây chính là thước đo chính xác nhất cho sự thành công của chương trình.

5.1. Kết quả thực tiễn Sự thay đổi rõ rệt bộ mặt nông thôn Tam Nông

Nhìn vào các xã của huyện Tam Nông hôm nay, có thể thấy rõ sự chuyển mình. Những con đường đất lầy lội xưa kia đã được thay thế bằng đường bê tông sạch đẹp. Điện, đường, trường, trạm được đầu tư đồng bộ. Các khu dân cư được quy hoạch gọn gàng, môi trường sống được cải thiện. Đây là những kết quả hữu hình, là thành quả trực tiếp từ sự chung tay góp sức của mỗi người dân, khẳng định tính đúng đắn của chủ trương phát huy nội lực cộng đồng trong xây dựng NTM.

5.2. Mức độ hài lòng của người dân Thước đo thành công chương trình

Thành công của một chương trình không chỉ đo bằng những con số thống kê, mà quan trọng hơn là sự hài lòng và tin tưởng của người dân. Khảo sát tại huyện Tam Nông cho thấy đa số người dân đánh giá cao những lợi ích mà chương trình NTM mang lại. Họ hài lòng vì đời sống vật chất được cải thiện, môi trường sống trong lành hơn, và đặc biệt là họ được tham gia, được quyết định các vấn đề của chính cộng đồng mình. Sự hài lòng này là nguồn cổ vũ to lớn, tạo động lực để người dân tiếp tục tham gia vào giai đoạn tiếp theo của chương trình xây dựng nông thôn mới.

VI. Top giải pháp nâng cao vai trò người dân xây dựng NTM bền vững

Để chương trình xây dựng nông thôn mới tại Tam Nông phát triển bền vững, việc tiếp tục nâng cao vai trò của người dân là nhiệm vụ trọng tâm. Dựa trên thực tiễn và các đề xuất trong tài liệu nghiên cứu, một số giải pháp cần được tập trung thực hiện. Trước hết, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để nâng cao hơn nữa nhận thức của người dân, giúp họ hiểu sâu sắc rằng mình là chủ thể, là trung tâm của quá trình này. Thứ hai, cần hoàn thiện và thực hiện tốt hơn nữa quy chế dân chủ ở cơ sở, đảm bảo mọi hoạt động đều được công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân tham gia bàn bạc, quyết định và giám sát. Thứ ba, cần có chính sách hỗ trợ, đào tạo, tập huấn để nâng cao năng lực cho người dân và cán bộ cộng đồng, đặc biệt là năng lực quản lý kinh tế, kỹ năng giám sát. Thứ tư, cần đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn lực, kết hợp giữa đóng góp của người dân với sự hỗ trợ của nhà nước và thu hút đầu tư từ doanh nghiệp, tránh gây áp lực quá sức dân. Cuối cùng, cần chú trọng đến việc xây dựng và nhân rộng các mô hình phát triển sản xuất hiệu quả, bền vững, tạo “cần câu” để người dân tự vươn lên làm giàu trên chính quê hương mình.

6.1. Tăng cường tuyên truyền và nâng cao năng lực cho cộng đồng

Công tác tuyên truyền cần được đổi mới về nội dung và hình thức, phải đi vào chiều sâu, dễ hiểu, dễ nhớ. Cần tổ chức nhiều hơn các lớp tập huấn về kỹ thuật sản xuất, quản lý kinh tế, pháp luật, và kỹ năng giám sát cho người dân. Khi người dân có đủ thông tin và năng lực, sự tham gia của họ sẽ trở nên chủ động và hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng toàn diện của chương trình xây dựng NTM.

6.2. Hoàn thiện cơ chế chính sách để phát huy quyền làm chủ

Cần tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách liên quan đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Cần quy định rõ ràng, cụ thể hơn về vai trò, trách nhiệm của Ban Giám sát cộng đồng. Đồng thời, cần có cơ chế khen thưởng, động viên kịp thời những cá nhân, tập thể có đóng góp tích cực, tạo không khí thi đua sôi nổi trong toàn dân, qua đó khẳng định vai trò của người dân là yếu tố quyết định mọi thành công.

04/10/2025
Vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng chương trình nông thôn mới tại huyện tam nông tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của ngƣời dân trong tham gia xây dựng chƣơng trình nông thôn mới. Chương 2: Đặc điểm cơ bản của huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Vai trò của ngƣời dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NGƢỜI DÂN TRONG VIỆC THAM GIA XÂY DỰNG CHƢƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MỚI 1.

Khái niệm về phát triển nông thôn, nông thôn mới * Nông thôn - Nông thôn: Là khái niệm dùng để chỉ địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Khác với phát triển và phát triển kinh tế, phát triển nông thôn là chỉ sự phát triển ở khu vực nông thôn; có thể hiểu rằng phát triển nông thôn chỉ sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi hẹp hơn phát triển và phát triển kinh tế. Sau đây là một số quan điểm về phát triển nông thôn. - Phát triển nông thôn là những thay đổi cần thiết ở vùng nông thôn.

Tuy nhiên, những gì coi là cần thì khác nhau ở từng nƣớc, từng vùng, từng địa phƣơng; theo quan điểm thông thƣờng, bản chất của phát triển là tăng trƣởng và hiện đại hóa mang lại cho ngƣời nghèo chút lợi nho nhỏ. - Phát triển nông thôn bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn với tốc độ cao, là quá trình làm tăng mức sống của ngƣời dân nông thôn. Phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của con ngƣời, đảm bảo sự tồn tại bền vững và sự tiến bộ lâu dài trong nông thôn. Sự phát triển đó dựa trên việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên mà vẫn đảm bảo giữ gìn môi trƣờng sinh thái nông thôn.

Phát triển nông thôn đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhƣng không làm cạn kiệt tài nguyên, không để lại hậu quả thế hệ tƣơng lai. * Nông thôn mới (NTM) NTM không còn là tên gọi mới của nƣớc ta trong vài năm trở lại đây, chƣơng trình phát triển nông thôn đã góp phần quan trọng trong việc phát triển và cải thiện nông thôn nƣớc ta. Để đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng cao của ngƣời nông thôn, yêu cầu phát triển nông thôn theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa , hợp tác hóa, dân chủ hóa, Nghị quyết 06/NQ-TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 49/2001/CT- BNN/CS ngày 27/4/2001 của Bộ trƣởng Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành về việc “Xây dựng mô hình PTNT mới là một quá trình chuyển đổi căn bản chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam từ hƣớng cung sang 5 hƣớng cầu thị trƣờng. Đồng thời, đảm bảo sự tham gia tối đa của ngƣời dân vào quá trình phát triển theo phƣơng châm “Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hƣởng lợi”.

Đây là cơ sở nội lực, hƣớng vào xây dựng tính bền vững cho việc phát triển. Xây dựng NTM là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cƣ ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện; có nếp sống văn hóa, môi trƣờng và an ninh nông thôn đƣợc đảm bảo; thu nhập đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời day dựng NTM là sự nghiệp các mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. NTM không chỉ là vấn đề kinh tế, xã hội mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp. Xây dựng NTM giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.2M u,că ncứ vàtiê ự uchíxâyd ncủaB gN M T ộ N ô ngnghệ ipvàP N T T 1.

Mục tiêu của việc xây dựng NTM Xây dựng NTM nhằm đạt đƣợc các mục tiêu tổng thể về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội. Để đạt đƣợc các mục tiêu này, quá trình xây dựng NTM phải thực hiện trong mối quan hệ tác động qua lại, gắn kết nhau tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh. Các căn cứ xác định tiêu chí xây dựng NTM 1. Cấp tỉnh, thành phố UBND cấp tỉnh, thành phố xác định tiêu chí và chỉ tiêu phấn đấu cụ thể nhƣ sau: - Tỉnh nông nghiệp: GDP nông nghiệp > 30% - Tỉnh nông - công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm 10 - 30% - Tỉnh Công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm < 10% Ngoài các tiêu chí trên, để đạt đƣợc tiêu chuẩn nông thôn mới, tinh phải có 80% số huyện trong tỉnh đạt tiêu chí NTM 1.

Cấp huyện UBND huyện chịu trách nhiệm trong lĩnh vực xây dựng NTM ở huyện. Huyện cử cán bộ có trình độ am hiểu nông dân, nông thôn phối hợp 6 với tƣ vấn của Bộ tham gia xây dựng kế hoạch phát triển xã. Bên cạnh đó, thẩm định kỹ thuật các công trình xây dựng cơ bản trong kế hoạch của xã có vốn lớn theo quy định hiện hành. Tiêu chí NTM phụ thuộc vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên từng vùng.

Ngoài ra, huyện phải có 75% số xã trong huyện đạt tiêu chí xã NTM. Cấp xã Chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp xây dựng NTM ở các thôn, xã. Kết hợp với tƣ vấn của Bộ, tham gia xây dựng kế hoạch tổng thể của thôn và giúp cho cộng đồng thôn lựa chọn kế hoạch năm phù hợp quy định lớn của xã. Thẩm định các kế hoạch phát triển và kỹ thuật các công trình xây dựng cơ bản của thôn.

TC xã NTM phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên của mỗi xã Ngoài ra, xã phải có 90% số thôn, bản trong xã đạt TC NTM 1. Cấp thôn, bản Quy hoạch phát triển thôn dƣới sự tƣ vấn của cán bộ tƣ vấn Bộ, tỉnh, huyện và xã. Thôn đạt TC NTM khi đạt 90% các chỉ tiêu đề ra do nhân dân tự xác định và đã kiểm tra theo từng giai đoạn cụ thể. Các tiêu chí về xây dựng NTM Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ ký quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 bao gồm 19 tiêu chí và đƣợc chia làm 5 nhóm, cụ thể các nhóm tiêu chí: - Về quy hoạch - Về hạ tầng xã hội - Về kinh tế và tổ chức sản xuất - Về văn hóa - xã hội - môi trƣờng - Các hạng mục khác 19 tiêu chí xây dựng NTM: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trƣờng học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bƣu điện, nhà ở dân cƣ, thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trƣờng, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, trật tự xã hội địa bàn.

Những nội dung chủ yếu về xây dựng NTM 7 Chƣơng trình phát triển NTM là biểu hiện cụ thể của phát triển nông thôn nhằm tạo ra một nông thôn có kinh tế phát triển cao hơn, có đời sống về vật chất, văn hóa tinh thần tốt hơn, có bộ mặt nông thôn hiện đại bao gồm cả cơ sở hạ tầng phục vụ tốt cho sản xuất, đời sống và văn hóa của ngƣời dân. Phát triển kinh tế Sản xuất phát triển, nhất là sản xuất hàng hóa là điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế của cộng đồng mỗi địa phƣơng. Kinh tế có phát triển thì những yếu tố xã hội mới có cơ hội phát triển theo và đây là động lực chính cho những tiến bộ xã hội đƣợc thực hiện. Phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trƣớc hết là phát triển nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hóa với năng suất và hiệu quả ngày càng cao, đồng thời phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn, phát triển dịch vụ nông thôn để từng bƣớc giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hƣớng tiến bộ, phân công lại lao động, phát triển nông thôn theo hƣớng CNH - HĐH. Phát triển cơ cở hạ tầng và bộ mặt nông thôn Nội dung tiếp theo cần thiết cho một địa phƣơng xây dựng nông thôn mới là có một bộ mặt nông thôn mới, trong đó xây dựng cơ sở hạ tầng là yếu tố thiết yếu. Cơ sở hạ tầng không những là nhân tố đảm bảo thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế mà còn nâng cao đời sống của nhân dân. Đối với cơ sở hạ tầng, đƣờng giao thông, hệ thống thủy lợi, các công trình chăm sóc y tế, trƣờng học, công trình văn hóa….đƣợc xếp thứ tự là các hạng mục ƣu tiên cần đƣợc phát triển để đáp ứng yêu cầu thiết yếu của đời sống và sản xuất.

Những công trình phát triển cơ sở hạ tầng trực tiếp ảnh hƣởng đến sản xuất thƣờng đƣợc quan tâm và đầu tƣ thích đáng để nhanh chóng đẩy mạnh sản xuất và tạo ra các động lực cho việc phát triển các cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho phát triển kinh tế và đời sống. Việc phát triển cơ sở hạ tầng đẩy mạnh phát triển kinh tế còn có thể là việc đƣa các ngành nghề mới vào địa phƣơng hoặc trang bị những thiết bị mới, những biện pháp sản xuất gắn liền với tìm kiếm và định hƣớng thị trƣờng. Phát triển văn hóa và nâng cao dân trí 8 Việc nâng cao dân trí, phát triển văn hóa sẽ là một trong những động lực để giải phóng sức lao động, giải phóng sức tƣ duy sáng tạo trong việc đẩy mạnh sản xuất cho chính họ và cho cộng đồng. Ngƣời dân có kinh tế ổn định, có trình độ văn hóa khoa học cao, có phong cách sống văn minh hiện đại là mẫu ngƣời nông dân mới trong nông thôn đổi mới không những là mục tiêu trƣớc mắt mà còn là mục tiêu lâu dài của công cuộc phát triển nông thôn nƣớc ta.

Để thực hiện đƣợc yêu cầu này, việc xây dựng các cơ sở văn hóa xã hội tốt hơn, khang trang hơn.chỉ là một trong những yếu tố mang tính hình thức. Cần có những nội dung thiết thực trong việc xây dựng con ngƣời có trình độ chuyên môn lại vừa có văn hóa là một nhiệm vụ hết sức nặng nề và có tính lâu dài. Do đó, xây dựng các hạ tầng văn hóa xã hội luôn luôn phải đi đôi với những nội dung của hoạt động này. Địa phƣơng xây dựng NTM cần phải là địa phƣơng có phong trào văn hóa mới, vì văn hóa mới là tiêu chí cần thiết trong xây dựng con ngƣời mới, phát huy nền dân chủ nhân dân, xây dựng một cuộc sống văn hóa tinh thần lành mạnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ