Tổng quan nghiên cứu

Phụ nữ Việt Nam chiếm hơn 51% dân số và 48% lực lượng lao động xã hội, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế - xã hội. Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nguyên tắc mở rộng dân chủ và bảo đảm sự tham gia của các tổ chức quần chúng vào hoạt động quản lý nhà nước là yêu cầu tất yếu khách quan. Với quy mô tổ chức 4 cấp quy tụ gần 15 triệu hội viên (chiếm khoảng 70% tổng số phụ nữ từ 18 tuổi trở lên trên cả nước), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là một trong 6 tổ chức chính trị - xã hội nòng cốt, giữ vị trí cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ vai trò tham gia quản lý nhà nước của các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, từ đó đánh giá toàn diện những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân thực tiễn. Mục tiêu cụ thể của công trình gồm ba nội dung: hệ thống hóa cơ sở lý luận và quy định pháp luật hiện hành; khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động tham gia quản lý nhà nước của Hội trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2012; và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời kỳ đổi mới.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ hệ thống Hội từ cấp Trung ương đến cơ sở trên phạm vi toàn quốc, tập trung sâu vào các lĩnh vực xây dựng chính sách, giám sát, phản biện xã hội và quản lý các vấn đề bình đẳng giới, hôn nhân gia đình. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan công quyền và các đoàn thể theo Nghị định 19/2003/NĐ-CP, đồng thời đóng góp trực tiếp vào công tác tổng kết thực tiễn cho hơn 3.200 cán bộ chuyên trách cấp huyện và hàng vạn cán bộ cơ sở trong toàn hệ thống.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba nền tảng lý thuyết chính:

Thứ nhất là lý thuyết về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và dân chủ xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Lý thuyết này khẳng định tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong mô hình này, các đoàn thể quần chúng đóng vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền, trực tiếp tham gia xây dựng và bảo vệ bộ máy nhà nước.

Thứ hai là lý thuyết quản lý nhà nước và hành chính công hiện đại, được kế thừa từ các công trình nghiên cứu của Giáo sư Tiến sĩ Phạm Hồng Thái, Phó Giáo sư Tiến sĩ Đinh Văn Mậu và Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Cửu Việt. Quản lý nhà nước được tiếp cận theo cả nghĩa rộng (toàn bộ hoạt động thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp) và nghĩa hẹp (hoạt động chấp hành, điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước). Mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội mang đặc trưng hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau nhằm duy trì trật tự và thúc đẩy tiến bộ xã hội.

Thứ ba là lý thuyết về bình đẳng giới và phát triển con người, gắn liền với các quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Các khái niệm then chốt được vận hành trong nghiên cứu gồm: Quản lý nhà nước, Tổ chức chính trị - xã hội, Tham gia quản lý nhà nước, Giám sát và phản biện xã hội, và Quyền đại diện của tổ chức Hội.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu đa dạng kết hợp giữa văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết thực tiễn và số liệu thống kê ngành. Cụ thể, nguồn dữ liệu thứ cấp gồm hơn 75 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được Hội đóng góp ý kiến giai đoạn 2009–2010, văn kiện Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc qua các thời kỳ, các báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Nghị định 19/2003/NĐ-CP và báo cáo hoạt động của 64 tỉnh, thành Hội.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu tiếp cận toàn diện hệ thống tổ chức Hội 4 cấp từ Trung ương đến 63 tỉnh, thành phố và các đơn vị trực thuộc (Ban Nữ công, Ban Phụ nữ Quân đội, Ban Phụ nữ Công an), kết hợp khảo sát thực địa chuyên sâu tại 11 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng miền địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau khi tham gia xây dựng Luật Bình đẳng giới.

Phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm: phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp so sánh luật học, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp logic - lịch sử. Việc lựa chọn phương pháp phân tích luật học kết hợp thống kê thực chứng giúp tác giả đối chiếu chặt chẽ giữa các quy định của Hiến pháp 1992, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật với dữ liệu nhân sự thực tế (như cơ cấu 316 chỉ tiêu biên chế Trung ương và 1.214 cán bộ nữ cấp tỉnh), từ đó chỉ ra những khoảng cách giữa thể chế pháp lý và thực tiễn thi hành trong mốc thời gian từ năm 2003 đến năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và phân tích dữ liệu thực tế mang lại ba phát hiện quan trọng về vị trí, năng lực và kết quả tham gia quản lý nhà nước của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam:

Thứ nhất, Hội đạt được dấu ấn vượt bậc trong hoạt động tham gia xây dựng chính sách, pháp luật. Giai đoạn 2009–2010, Hội đã trực tiếp tham gia góp ý kiến cho 75 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (gồm 2 dự thảo Bộ luật, 40 dự thảo Luật, 9 dự thảo Nghị định, 12 dự thảo Thông tư và 12 văn bản pháp lý khác). Đặc biệt, Hội khẳng định vị thế lập pháp lịch sử khi được giao chủ trì soạn thảo Luật Bình đẳng giới (Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ ngày 01/7/2007) sau khi tổ chức lấy ý kiến 64 tỉnh, thành Hội và tham khảo kinh nghiệm lập pháp của hơn 10 quốc gia trên thế giới.

Thứ hai, mạng lưới tổ chức chặt chẽ và nguồn nhân lực chuyên trách có trình độ cao là nền tảng cốt lõi giúp Hội thực hiện tốt chức năng đại diện. Cơ cấu nhân sự cấp Trung ương có 316 chỉ tiêu biên chế với 88,6% là nữ, trong đó 34,5% có trình độ đại học và 14,2% có trình độ thạc sĩ. Ở cấp tỉnh, Hội quản lý 1.214 cán bộ nữ (chiếm 85,95%), trong đó 100% Chủ tịch Hội và 98,57% Phó Chủ tịch Hội đạt trình độ đại học trở lên, 74,93% cán bộ chuyên trách có trình độ đại học và 37,96% đạt trình độ cao cấp hoặc cử nhân lý luận chính trị. Đây là lực lượng nòng cốt kết nối gần 15 triệu hội viên với các cơ quan hành chính nhà nước.

Thứ ba, cơ chế phối hợp liên ngành và phản biện xã hội đã được thể chế hóa đa dạng thông qua các chương trình liên tịch. Hội đã ký kết nhiều nghị quyết liên tịch với Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, Ngân hàng Chính sách xã hội để lồng ghép nhiệm vụ quản lý trật tự, bảo vệ môi trường, giáo dục trẻ em và hỗ trợ tín dụng giảm nghèo cho phụ nữ.

+-------------------------------------------------------------------------------+
|     TỔNG HỢP VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT HỘI GÓP Ý GIAI ĐOẠN 2009 - 2010       |
+---------------------+-------------------+-------------------+-----------------+
| Loại văn bản        | Số lượng (Văn bản)| Tỷ lệ cơ cấu (%)  | Trọng tâm       |
+---------------------+-------------------+-------------------+-----------------+
| Dự thảo Bộ luật     |         2         |       2,67%       | Dân sự, Hình sự |
| Dự thảo Luật        |        40         |      53,33%       | Đất đai, Lao động|
| Dự thảo Nghị định   |         9         |      12,00%       | Nghị định 19    |
| Dự thảo Thông tư    |        12         |      16,00%       | Hướng dẫn ngành |
| Văn bản pháp lý khác|        12         |      16,00%       | Chương trình MTQG|
+---------------------+-------------------+-------------------+-----------------+
| Tổng cộng           |        75         |     100,00%       | Lồng ghép giới  |
+---------------------+-------------------+-------------------+-----------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản giúp Hội đạt được các kết quả nêu trên là nhờ sự lãnh đạo toàn diện của Đảng qua các nghị quyết chuyên đề, đặc biệt là Nghị quyết 11-NQ/TW, cùng hành lang pháp lý vững chắc từ Điều 9, Điều 87 Hiến pháp 1992 và Nghị định 19/2003/NĐ-CP. Cơ chế này đã tạo điều kiện bắt buộc để các cơ quan hành chính phải gửi dự thảo văn bản lấy ý kiến phản biện của Hội.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế cố hữu: Tại cấp xã, tổ chức Hội còn bộc lộ xu hướng hành chính hóa; trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ không đồng đều khi tỷ lệ cán bộ cấp huyện đạt trình độ trung cấp vẫn còn chiếm khoảng 31%, và tại cấp xã có tới 51,56% cán bộ ở mức trung cấp chuyên môn. Nguồn lực tài chính của Hội còn phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước, trong khi mức hội phí thu về rất khiêm tốn (chỉ khoảng 500 đồng đến 2.000 đồng/người/tháng), gây khó khăn cho việc chủ động triển khai các hoạt động điều tra, giám sát độc lập.

Các số liệu thống kê về cơ cấu nhân lực 4 cấp và danh mục 75 văn bản quy phạm pháp luật khi được trực quan hóa qua biểu đồ phân bố trình độ cán bộ và bảng tổng hợp phân loại văn bản cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt: Hội Phụ nữ đã tiến từ vị thế tuyên truyền, vận động thuần túy sang vai trò chủ thể đồng kiến tạo thể chế và giám sát thực thi pháp luật.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa vai trò tham gia quản lý nhà nước của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong thời gian tới:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống thể chế và cơ chế phối hợp quản lý nhà nước. Cơ quan chủ thể thực hiện là Chính phủ, Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành liên quan. Cần khẩn trương sửa đổi, hoàn thiện Nghị định 19/2003/NĐ-CP theo hướng quy định trách nhiệm giải trình bắt buộc của các cơ quan quản lý nhà nước đối với những ý kiến đóng góp, phản biện của Hội. Đặt mục tiêu 100% các dự thảo chính sách, văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của phụ nữ, trẻ em phải có sự tham gia của đại diện Hội ngay từ khâu thành lập Ban soạn thảo.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Hội các cấp. Cơ quan chủ thể là Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp với các cơ sở đào tạo chuyên ngành. Cần xây dựng đề án đào tạo chuyên sâu về kỹ năng phản biện chính sách và kiến thức pháp luật hành chính cho đội ngũ chuyên trách; nâng tỷ lệ cán bộ Hội cấp xã đạt chuẩn chức danh lên 100% (tăng từ mức 90%), đồng thời phấn đấu nâng tỷ lệ cán bộ Hội cấp huyện có trình độ đại học và cử nhân lý luận chính trị từ mức 67,54% lên trên 80% trong giai đoạn 2013–2018.

Thứ ba, đổi mới phương thức giám sát và phản biện xã hội. Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp cần phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc để chuyển đổi mô hình từ giám sát sự vụ sang phản biện chính sách vĩ mô. Thiết lập bộ tiêu chí đánh giá tác động giới định kỳ hằng năm đối với ít nhất 10 chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn mới.

Thứ tư, đa dạng hóa nguồn tài chính và nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí. Trung ương Hội và Hội địa phương cần chủ động mở rộng hợp tác quốc tế, vận động nguồn tài trợ từ các dự án phát triển hợp pháp, đồng thời điều chỉnh mức trích nộp hội phí lên mức 1.000 đến 2.000 đồng/người/tháng nhằm bổ sung quỹ hoạt động phong trào và đẩy mạnh chương trình ủy thác tín dụng xã hội hỗ trợ tối thiểu 70% phụ nữ nghèo được tiếp cận vốn sản xuất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu của luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất là Cán bộ chuyên trách Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp từ Trung ương đến địa phương. Công trình cung cấp cẩm nang lý luận và căn cứ pháp lý vững chắc (Hiến pháp 1992, Luật Bình đẳng giới, Nghị định 19/2003/NĐ-CP) để cán bộ Hội vận dụng trực tiếp vào quy trình giám sát, soạn thảo văn bản phản biện chính sách và tổ chức các phong trào thi đua tại địa phương.

Thứ hai là Lãnh đạo và chuyên viên các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tư pháp và cơ quan lập pháp. Luận văn giúp các nhà hoạch định chính sách nắm rõ cơ chế phối hợp liên ngành, quy trình lồng ghép bình đẳng giới vào việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm.

Thứ ba là Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học chuyên ngành Luật học, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Hành chính công và Xã hội học. Tài liệu đóng vai trò là công trình tham khảo toàn diện với nguồn tư liệu thực chứng phong phú về mô hình tổ chức bộ máy và hoạt động thực tiễn của các tổ chức chính trị - xã hội Việt Nam.

Thứ tư là Các tổ chức phi chính phủ, tổ chức quốc tế và các nhà tài trợ hoạt động trong lĩnh vực bình đẳng giới và phát triển cộng đồng. Nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn cảnh về mạng lưới 15 triệu hội viên để các tổ chức thiết kế những dự án can thiệp cộng đồng, nâng cao năng lực cho phụ nữ hiệu quả hơn.

Câu hỏi thường gặp

Cơ sở pháp lý cao nhất quy định quyền tham gia quản lý nhà nước của Hội là gì?

Cơ sở pháp lý cao nhất được ghi nhận tại Điều 9 và Điều 87 Hiến pháp năm 1992. Theo đó, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên (trong đó có Hội Liên hiệp Phụ nữ) là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, được cụ thể hóa thi hành qua Nghị định 19/2003/NĐ-CP của Chính phủ.

Đóng góp nổi bật nhất của Hội trong công tác xây dựng pháp luật là gì?

Thành tựu lập pháp mang tính dấu mốc của Hội là việc chủ trì nghiên cứu, soạn thảo thành công dự án Luật Bình đẳng giới, được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2006. Hội đã tiến hành khảo sát thực trạng tại 11 tỉnh, thành phố, lấy ý kiến của 64 tỉnh, thành Hội và tham khảo pháp luật của hơn 10 quốc gia trước khi hoàn thiện dự thảo luật.

Mạng lưới tổ chức và quy mô hội viên của Hội có đặc điểm gì nổi bật?

Hội được tổ chức chặt chẽ theo 4 cấp hành chính từ Trung ương đến xã, quản lý mạng lưới gần 15 triệu hội viên (chiếm khoảng 70% tổng số phụ nữ từ 18 tuổi trở lên). Quy mô rộng lớn này giúp Hội trở thành đại diện hợp pháp bảo vệ quyền lợi cho hơn 51% dân số cả nước.

Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp tỉnh đạt mức nào?

Tại cấp tỉnh, Hội có 1.214 cán bộ nữ (chiếm 85,95%), trong đó 100% Chủ tịch Hội và 98,57% Phó Chủ tịch Hội có trình độ đại học trở lên. Toàn cấp tỉnh ghi nhận 1 Tiến sĩ, 23 Thạc sĩ, 1.058 người có trình độ đại học (đạt tỷ lệ 74,93%) và 37,96% đạt trình độ cử nhân hoặc cao cấp lý luận chính trị.

Những khó khăn lớn nhất trong việc tham gia quản lý nhà nước của Hội là gì?

Những rào cản chính gồm có: tình trạng hành chính hóa phương thức hoạt động ở cấp cơ sở, nguồn kinh phí hạn hẹp (hội phí chỉ 500 đến 2.000 đồng/người/tháng), trình độ cán bộ cấp xã chưa đồng đều (khoảng 51,56% ở mức trung cấp) và cơ chế tiếp thu phản biện của một số cơ quan hành chính còn mang tính hình thức.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và khung pháp lý thực định (Hiến pháp 1992, Nghị định 19/2003/NĐ-CP) về vai trò tham gia quản lý nhà nước của Hội Phụ nữ.
  • Nghiên cứu làm rõ quy mô mạng lưới 4 cấp với gần 15 triệu hội viên, chứng minh Hội là chủ thể chính trị - xã hội đại diện vững chắc cho quyền lợi của hơn 51% dân số cả nước.
  • Công trình ghi nhận đóng góp lập pháp ấn tượng với 75 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được góp ý giai đoạn 2009–2010 và dấu ấn chủ trì soạn thảo thành công Luật Bình đẳng giới năm 2006.
  • Tác giả phân tích thẳng thắn các nút thắt về cơ chế tài chính, tính hành chính hóa và sự chênh lệch trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp cơ sở.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp được đề xuất mở ra lộ trình chiến lược nhằm nâng cao hiệu lực phản biện chính sách và tối ưu hóa năng lực quản trị công của các cấp Hội trong giai đoạn phát triển mới.

Các cơ quan quản lý, các nhà nghiên cứu và đội ngũ cán bộ Hội các cấp hãy khai thác, vận dụng các luận cứ từ công trình nghiên cứu này để tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực thi dân chủ và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước tại đơn vị!