Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÕ THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CỦA CÁC CẤP HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM 1. Khái niệm về quản lý nhà nước và vai trò của các đoàn thể nhân dân Quản lý là một tất yếu khách quan do lịch sử quy định, là sự tác động một cách có tổ chức và sự định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước.TS Phạm Hồng Thái và PGS.TS Đinh Văn Mậu, "quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa đầy đủ, là sự quản lý có tính chất nhà nước, do nhà nước thực hiện thông qua bộ máy nhà nước, trên cơ sở quyền lực nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của nhà nước" [30, tr. Cũng về khái niệm quản lý nhà nước, theo PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, "quản lý nhà nước theo nghĩa rộng, là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước" [35, tr.
Với khái niệm này, có thể thấy, chủ thể của quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các cơ quan này được thành lập để thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đối tượng của quản lý nhà nước là toàn thể nhân dân. Hoạt động quản lý nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phòng… nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân. Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, lấy pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội theo định hướng mà nhà nước đề ra.
Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước là việc thực thi các loại quyền lực nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh mọi quan hệ xã hội, làm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng đề ra. Việc tổ chức thực thi quyền lực nhà nước gồm: thực thi quyền lập pháp, thực thi quyền hành pháp và thực thi quyền tư pháp. Tổ chức và hoạt động của nhà nước Việt Nam được thực hiện trên nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Như vậy, có thể thấy nội dung của quản lý nhà nước gồm: Ban hành các loại văn bản pháp luật (lập pháp) nhằm tạo khuôn khổ pháp luật cho xã hội vận động và phát triển; đưa pháp luật vào đời sống (hành pháp), điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nảy sinh; xử lý các vi phạm pháp luật (tư pháp) nhằm đảm bảo cho hệ thống pháp luật được nghiêm minh.
Như vậy, hoạt động quản lý nhà nước là của chủ thể các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Nhà nước là tổ chức quyền lực thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội.
Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mọi mặt của nhân dân, nhân dân có thể thực hiện quyền làm chủ đất nước của mình bằng nhiều hình thức, trong đó có việc làm chủ thông qua tổ chức đại diện của mình. Trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động quản lý này, Nhà nước có mối quan hệ rất mật thiết với các thành tố khác trong hệ thống chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, trong đó có Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.TS Nguyễn Cửu Việt: Đặc trưng cơ bản của mối quan hệ giữa các tổ chức xã hội và các cơ quan nhà nước là sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau. Điều này xuất phát từ sự thống nhất về mục đích là xây dựng xã hội chủ nghĩa, nâng cao tính tích cực chính trị của công dân, bảo vệ các quyền, tự do cơ bản của công dân [35, tr.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; tham gia xây dựng, giám sát và bảo vệ Nhà nước như: vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện quyền làm chủ, bầu ra cơ quan dân cử, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ viên chức nhà nước; tham gia xây dựng pháp luật và chính sách; đóng góp ý kiến với cơ quan nhà nước các cấp; tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong nhân dân… Nhà nước dựa vào Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể để phát huy quyền làm chủ và sức mạnh có tổ chức của nhân dân, tôn trọng và tạo mọi điều kiện để nhân dân trực tiếp hoặc thông qua đoàn thể của mình tham gia xây dựng, quản lý và bảo vệ Nhà nước. Trong quá trình ra các quyết định về quản lý và điều hành, Nhà nước lắng nghe những kiến nghị của các đoàn thể. Nhà nước phối hợp với các đoàn thể trong việc chăm lo lợi ích chính đánh của 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân dân, trong việc vận động các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh phong trào hành động thực hiện thắng lợi các chương trình kinh tế - xã hội.
Qua đó có thể thấy, trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước không tách rời khỏi mối quan hệ với các đoàn thể, trong đó có Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam - một tổ chức đại diện cho hơn 50% dân số đất nước. Hội có vai trò nhất định, tham gia cùng nhà nước thực hiện các hoạt động quản lý xã hội, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, cơ sở lý luận cho việc tham gia quản lý nhà nước của Hội phụ nữ chính là xuất phát từ bản chất nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, cùng với sứ mệnh của các tổ chức đoàn thể là bảo vệ lợi ích các thành viên như trên đã phân tích, thì việc tham gia quản lý nhà nước của các đoàn thể nói chung, Hội Liên hiệp phụ nữ nói riêng, là một yêu cầu tất yếu đối với cả phía Nhà nước và phía Hội phụ nữ. Chủ trương, quan điểm của Đảng Từ những ngày đầu thành lập đến nay, Đảng đã luôn quan tâm đến phụ nữ và công tác phụ nữ với mong muốn phát huy được vai trò của người phụ nữ trong sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Trong Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (1930), Đảng đã xác định thực hiện "Nam nữ bình quyền" là một trong mười nhiệm vu cốt yếu của cách mạng Đông Dương và chủ trương tổ chức, vận động các tầng lớp phụ nữ đứng lên tham gia cách mạng, giải phóng dân tộc. Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là một trong lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ. Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng. Thực hiện Nghị quyết Hội Nghị Trung ương Đảng tháng 10/1930 về việc tổ chức ra các đoàn thể phụ nữ, tổ chức cách mạng của phụ nữ đã ra đời.
Đảng cũng luôn quan tâm lãnh đạo phát huy vai trò của tổ chức Hội phụ nữ để Hội thực sự là tổ chức đoàn kết các tầng lớp phụ nữ, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, đồng thời tham gia quản lý nhà nước. Quan điểm của Đảng về giải phóng phụ nữ, công tác phụ nữ cũng như vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ được thể hiện nhất quán và xuyên suốt qua các thời kỳ; được ghi nhận trong các nghị quyết Đại hội Đảng, nhất là trong các chỉ thị, nghị quyết: Nghị quyết số 152-NQ/TW về Một số vấn đề về tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận" (ngày 10/1/1967), Nghị quyết số 153-NQ/TW về Công tác cán bộ nữ (ngày 10/1/1967), Chỉ thị số 44-CT/TW về Một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ (ngày 7/6/1984), Nghị quyết số 04-NQ/TW về Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới (ngày 12/7/1993), Chỉ thị số 37-CT/TW về Một số vấn đề về công tác cán bộ nữ trong tình hình mới (ngày 29/9/1993)… Đặc biệt, ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó nêu rõ quan điểm: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phải phấn đấu làm tốt vai trò nòng cốt tham mưu và thực hiện các giải pháp cần thiết để nâng cao nhận thức cho phụ nữ về bình đẳng giới, khắc phục tư tưởng tự ti, an phạn, níu kéo nhau, nêu cao tinh thần tự chủ, đoàn kết, vượt khó vươn lên để không ngừng tiến bộ, đóng góp ngày càng nhiều cho gia đình, xã hội. Hội cần phát huy vai trò tích cực trong tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và tham gia giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách đối với phụ nữ và lao động nữ trong các thành phần kinh tế.