Khảo sát vai trò của dược sĩ thông tin thuốc tại bệnh viện quận 4

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khảo sát vai trò dược sĩ thông tin thuốc tại bệnh viện quận 4, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực y tế.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

78
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ THÔNG TIN THUỐC

1.2. HOẠT ĐỘNG VỀ THÔNG TIN THUỐC TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

1.3. HOẠT ĐỘNG CỦA DƯỢC SĨ LÂM SÀNG TRONG CÔNG TÁC THÔNG TIN THUỐC

1.4. MỘT SỐ NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG DƯỢC LÂM SÀNG TẠI KHOA DƯỢC BỆNH VIỆN

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Ước tính cỡ mẫu

2.2.2. Lấy mẫu ngẫu nhiên

2.2.3. Phương pháp điều tra phỏng vấn

2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu

2.3. CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU

2.3.1. Nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân ngoại trú

2.3.2. Nhu cầu thông tin thuốc của cán bộ y tế

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1.1. Nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân ngoại trú

3.1.2. Nhu cầu thông tin thuốc của cán bộ y tế

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1. Nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân ngoại trú

4.2. Nhu cầu thông tin thuốc của cán bộ y tế

4.3. Đánh giá về công tác thông tin thuốc của bệnh nhân và cán bộ y tế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò của dược sĩ thông tin thuốc

Vai trò của dược sĩ trong việc cung cấp thông tin thuốc tại bệnh viện là rất quan trọng. Dược sĩ không chỉ là người cung cấp thông tin mà còn là cầu nối giữa bệnh nhân và bác sĩ. Họ giúp bệnh nhân hiểu rõ về dược phẩm, từ chỉ định, chống chỉ định đến tác dụng phụ. Việc cung cấp thông tin chính xác và kịp thời giúp bệnh nhân sử dụng thuốc một cách an toàn và hiệu quả. Theo nghiên cứu, 67,6% bệnh nhân có nhu cầu tư vấn về tác dụng và phản ứng bất lợi của thuốc. Điều này cho thấy sự cần thiết của dược sĩ trong việc hỗ trợ bệnh nhân trong quá trình điều trị.

1.1. Nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân

Nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân tại bệnh viện quận 4 rất đa dạng. Bệnh nhân thường muốn biết về tác dụng, liều dùng và cách sử dụng thuốc. Họ cũng cần được tư vấn về các phản ứng bất lợi có thể xảy ra. Việc cung cấp thông tin thuốc không chỉ giúp bệnh nhân yên tâm hơn mà còn giảm thiểu nguy cơ xảy ra các sự cố không mong muốn. Theo khảo sát, 75,8% bệnh nhân muốn hỏi đáp trực tiếp với dược sĩ trong khoảng thời gian từ 5-10 phút. Điều này cho thấy sự quan trọng của việc hỗ trợ bệnh nhân trong việc hiểu rõ về thuốc mà họ đang sử dụng.

1.2. Vai trò của dược sĩ trong công tác thông tin thuốc

Dược sĩ đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý thuốc và cung cấp thông tin y tế. Họ không chỉ là người cung cấp thông tin mà còn là chuyên gia trong lĩnh vực dược phẩm. Dược sĩ cần có kiến thức sâu rộng về các loại thuốc, từ dược lý đến dược động học, để có thể tư vấn chính xác cho bệnh nhân và cán bộ y tế. Họ cũng cần cập nhật thường xuyên các thông tin mới nhất về thuốc để đảm bảo rằng thông tin cung cấp là chính xác và kịp thời. Việc hướng dẫn dược sĩ trong công tác tư vấn thuốc là rất cần thiết để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện quận 4.

II. Thực trạng công tác thông tin thuốc tại bệnh viện quận 4

Tại bệnh viện quận 4, công tác thông tin thuốc còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù bệnh viện đã có những bước tiến trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, nhưng hoạt động tư vấn thông tin thuốc vẫn còn hạn chế. Nhiều bệnh nhân chưa được cung cấp đầy đủ thông tin về thuốc, dẫn đến việc sử dụng thuốc không đúng cách. Theo khảo sát, 70,4% bệnh nhân không có thắc mắc khi rời bệnh viện, điều này cho thấy họ có thể chưa nhận được thông tin cần thiết. Dược sĩ cần phải chủ động hơn trong việc cung cấp thông tin và tư vấn cho bệnh nhân để đảm bảo rằng họ hiểu rõ về thuốc mà mình đang sử dụng.

2.1. Khó khăn trong việc cung cấp thông tin thuốc

Một trong những khó khăn lớn nhất trong việc cung cấp thông tin thuốc tại bệnh viện quận 4 là thiếu nguồn lực. Dược sĩ thường phải đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau, từ cấp phát thuốc đến tư vấn cho bệnh nhân. Điều này dẫn đến việc họ không có đủ thời gian để cung cấp thông tin đầy đủ cho từng bệnh nhân. Hơn nữa, sự phức tạp trong các phác đồ điều trị cũng làm tăng áp lực cho dược sĩ trong việc cung cấp thông tin chính xác và kịp thời. Việc cải thiện quy trình làm việc và tăng cường đào tạo cho dược sĩ là cần thiết để nâng cao chất lượng dịch vụ thông tin thuốc.

2.2. Đánh giá về công tác thông tin thuốc

Đánh giá về công tác thông tin thuốc tại bệnh viện quận 4 cho thấy rằng mặc dù có nhiều nỗ lực, nhưng vẫn còn nhiều điều cần cải thiện. 61,9% bệnh nhân cảm thấy hài lòng với dịch vụ tư vấn, nhưng vẫn có một tỷ lệ không nhỏ bệnh nhân chưa nhận được thông tin đầy đủ. Dược sĩ cần phải lắng nghe ý kiến phản hồi từ bệnh nhân để cải thiện chất lượng dịch vụ. Việc xây dựng một hệ thống thông tin thuốc hiệu quả sẽ giúp nâng cao sự hài lòng của bệnh nhân và đảm bảo an toàn trong việc sử dụng thuốc.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN VỀ THÔNG TIN THUỐC 1.1 Khái niệm thông tin thuốc “Thông tin thuốc” được định nghĩa là “việc thu thập và/hoặc cung cấp các thông tin có liên quan đến thuốc như chỉ định, chống chỉ định, liều dùng, cách dùng, phản ứng có hại của thuốc, phòng ngừa khi dùng cho những nhóm người đặc biệt (trẻ em, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, người cao tuổi và các đối tượng khác) của đơn vị, cá nhân có trách nhiệm TTT nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin của các đơn vị, cá nhân đang trực tiếp hành nghề y, dược hoặc của người sử dụng thuốc” [5]. “Thông tin thuốc” có thể hiểu một cách đơn giản là các thông tin gắn liền với thuốc, các thông tin này được mô tả dưới dạng in trong các tài liệu tham khảo hay còn gọi là các nguồn thông tin. Tuy nhiên, để hiểu rõ khái niệm về “Thông tin thuốc”, thường phải đặt thuật ngữ này vào trong các ngữ cảnh cụ thể, đi kèm với các thuật ngữ khác như [2]:  Chuyên gia/dược sĩ/người cung cấp: đề cập vai trò cá nhân làm công tác TTT  Trung tâm/dịch vụ/thực hành: chú trọng địa điểm diễn ra hoạt động TTT  Chức năng/kỹ năng: liên quan năng lực TTT Với thực tế vô cùng đa dạng và phức tạp của các thuốc điều trị cũng như các tài liệu liên quan đến thuốc, thuật ngữ “Thông tin thuốc” thường được gắn liền với các khái niệm “Trung tâm thông tin thuốc” và “Chuyên gia thông tin thuốc”, có nghĩa là nói tới TTT là nói đến vai trò chuyên môn hóa của người dược sĩ cũng như nói đến một hệ thống thông tin hoạt động với các chức trách chuyên biệt [2].2 Vai trò của thông tin thuốc Việc tiếp cận với những thông tin chính xác, cập nhật, khách quan, phù hợp với từng đối tượng là cần thiết để phục vụ cho việc kê đơn, phân phát và sử dụng thuốc hợp lí. Dù cho hệ thống y tế có thể cung cấp thuốc chất lượng tốt như thế nào, nếu những thuốc đó không được sử dụng chính xác, chúng sẽ không có hiệu quả, thậm chí có thể để lại tác dụng xấu.

Mặc dù tiếp cận với TTT tốt không đảm bảo chắc 3 Luan van chắn rằng việc sử dụng thuốc sẽ tốt, nhưng đó là yêu cầu cơ bản cho việc ra quyết định hợp lí liên quan tới thuốc [11].3 Phân loại thông tin thuốc [2] 1.1 Phân loại theo nguồn thông tin Nguồn thông tin được chia thành ba loại: nguồn thông tin thứ nhất, nguồn thông tin thứ hai và nguồn thông tin thứ ba. Việc phân loại này dựa vào nguồn gốc, thành phần và chức năng của thông tin.  Nguồn thông tin thứ nhất: Các bài báo, công trình gốc đăng tải đầy đủ trên tạp chí hoặc đưa lên mạng internet, các báo cáo chuyên môn, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên, sổ tay phòng thí nghiệm… Các thông tin này thường do tác giả công bố kết quả nghiên cứu của mình mà không có sự can thiệp, đánh giá của bên thứ hai. Khi sử dụng nguồn thông tin thứ nhất, người sử dụng thông tin có thể xác định được phương pháp, kết quả nghiên cứu, kết luận cụ thể mà tác giả đạt được.

Hiện nay nguồn thông tin thứ nhất đang phát triển rất mạnh mẽ.  Nguồn thông tin thứ hai: Bao gồm hệ thống mục lục các thông tin hoặc các bài tóm tắt của cá thông tin thuộc nguồn thông tin thứ nhất, được sắp xếp theo các chủ đề nhất định. Nguồn thông tin thứ hai giúp người sử dụng thông tin tìm hiểu một vấn đề cụ thể, tiếp cận vấn đề toàn diện hơn bằng các danh mục thông tin liên quan, tóm tắt các thông tin cùng chủ đề. Hiện nay, đã có nguồn thông tin thứ hai lưu trữ trong CD-ROM hoặc đưa lên mạng internet.

 Nguồn thông tin thứ ba: Các thông tin được xây dựng bằng cách tổng hợp các thông tin từ hai nguồn thông tin trên. Tác giả của nguồn thông tin thứ ba thường là các chuyên gia về thuốc trong một lĩnh vực nào đó; từ các kiến thức chuyên sâu trong lĩnh vực đó, họ sẽ phân tích, tổng hợp các thông tin liên quan để đưa ra thông tin mang tính khái quát về một vấn đề. Các thông tin thuộc nguồn cấp ba thường được công bố dưới dạng sách giáo khoa, bản hướng dẫn điều trị chuẩn,… 1.2 Phân loại theo đối tượng được thông tin  Thông tin cho cán bộ y tế: 4 Luan van  Cho cá nhân: Thầy thuốc kê đơn; y tá điều dưỡng; dược sĩ (bệnh viện, cửa hàng).  Cho một tổ chức: Hội đồng thuốc và điều trị; Bảo hiểm y tế…  Thông tin cho người sử dụng:  Bệnh nhân, người dùng thuốc  Nhân dân, người tiêu dùng thuốc 1.3 Phân loại theo nội dung chuyên biệt của thông tin:  Các thông tin liên quan tới đặc tính và cách sử dụng của thuốc:  Dạng bào chế và sinh khả dụng của thuốc  Dược lực học  Dược động học  Đánh giá sử dụng, lựa chọn thuốc  Hướng dẫn sử dụng thuốc (chế độ liều, phác đồ điều trị, lưu ý khi dùng…)  ADR, độc tính của thuốc  Tác dụng gây quái thai, đột biến  Sử dụng thuốc cho các đối tượng đặc biệt  Độ ổn định, tính tương kị của thuốc  Tương tác thuốc  Các thông tin về luật, chính sách y tế, số đăng kí…  Thông tin về giá cả 1.4 Yêu cầu của thông tin thuốc 1.1 Yêu cầu chung [2] Một TTT phải có đầy đủ những yêu cầu sau:  Khách quan  Chính xác  Trung thực  Mang tính khoa học 5 Luan van  Rõ ràng và dứt khoát 1.2 Yêu cầu về nội dung:  Nội dung TTT được xây dựng căn cứ theo những tài liệu [8]:  Dược thư Quốc gia Việt Nam.

Dược thư Quốc gia Việt Nam là tài liệu chính thức về hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả.  Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đã được Bộ Y tế phê duyệt  Tài liệu, hướng dẫn chuyên môn có liên quan đến thuốc do Bộ Y tế ban hành hoặc công nhận. Tài liệu TTT chỉ được cung cấp các thông tin về thuốc, không đưa những thông tin không liên quan đến thuốc.  Nội dung TTT phải phù hợp với đối tượng được thông tin  Thông tin cho người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bao gồm tên thuốc, thành phần, nồng độ, hàm lượng, dạng bào chế, chỉ định, chống chỉ định, liều dùng, cách dùng, sử dụng thuốc trên các đối tượng đặc biệt, các thông tin liên quan đến cảnh báo và an toàn thuốc và các thông tin cần thiết khác;  Thông tin cho người sử dụng thuốc bao gồm tên thuốc, công dụng, chỉ định, chống chỉ định, liều dùng, cách dùng và những vấn đề cần lưu ý trong quá trình sử dụng thuốc;  Thông tin cho cơ quan quản lý nhà nước về dược bao gồm thông tin cập nhật về chất lượng, an toàn, hiệu quả của thuốc.

Trên đây mởi chỉ là nhữ thông tin tương đối “tĩnh” về thuốc. Hiện nay để đảm bảo yêu cầu sử dụng thuốc hợp lý, các nhân viên y tế còn có nhu cầu được cung cấp các thông tin mang tính “động” – đó là những thông tin biến đổi theo thời gian như thông tin đánh giá hiệu quả và độ an toàn của các thuốc mới (dựa vào các kết quả nghiên cứu về thuốc được tiến hành bởi rất nhiều các nhóm nghiên cứu tại khắp nơi trên thế giới), thông tin so sánh giữa các thuốc hoặc nhóm thuốc khác nhau trong điều trị về mọi phương diện hiệu quả, độ an toàn, tính kinh tế…thông tin cập nhật về các phác đồ điều trị và các hướng dẫn điều trị chuẩn… [2] 6 Luan van 1.3 Yêu cầu về hình thức thông tin thuốc Tài liệu thông tin để giới thiệu thuốc cho cán bộ y tế phải có dòng chữ "Tài liệu thông tin cho cán bộ y tế” ở trên đầu tất cả các trang. Đối với những tài liệu gồm nhiều trang phải đánh số trang, ở trang đầu phải ghi rõ phần thông tin chi tiết về sản phẩm xem ở trang nào (ghi số trang cụ thể) và in rõ: (a) Số Giấy tiếp nhận hồ sơ đăng ký tài liệu thông tin thuốc của Cục Quản lý dược - Bộ Y tế XXXX/XX/QLD-TT, ngày. in tài liệu.

Phần tài liệu chứng minh và phần trích dẫn để minh hoạ cho nội dung thông tin phải trung thực, cập nhật và ghi rõ tên tài liệu, tên tác giả, thời gian xuất bản tài liệu. Các thông tin mới phát minh, phát hiện qua nghiên cứu khoa học hoặc qua theo dõi sản phẩm trên thị trường phải được cung cấp theo hình thức cập nhật thông tin khoa học kèm theo tài liệu chứng minh. Phần thông tin mới phải ghi dòng chữ: “Phần thông tin này chỉ dùng để tham khảo” [5].4 Yêu cầu về trách nhiệm cung cấp thông tin thuốc Những tổ chức, đơn vị, cá nhân có quyền và nghĩa vụ cung cấp TTT bao gồm [8]:  Cơ sở kinh doanh dược, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực dược tại Việt Nam, cơ sở đăng ký thuốc có trách nhiệm cập nhật TTT của cơ sở đang lưu hành trên thị trường cho cơ quan quản lý nhà nước về dược và cung cấp TTT phù hợp cho người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và người sử dụng thuốc.  Người của cơ sở kinh doanh dược giới thiệu thuốc cho người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định.

 Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm cung cấp TTT có liên quan cho người sử dụng thuốc trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.  Cơ quan quản lý nhà nước về dược trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm công bố thông tin về chất lượng, an toàn, hiệu quả của thuốc.5 Quy trình thông tin thuốc Đã có nhiều nghiên cứu về kỹ năng TTT được tiến hành nhằm thiết lập một quy trình TTT có hiệu quả. Từ năm 1975, mô hình quy trình câu hỏi TTT đầu tiên đã được xây dựng bởi Watanabe và cộng sự [14]. Mô hình này đã được chỉnh sửa và phát triển thêm, điển hình là mô hình của Host và Kirkwood đưa ra năm 1987 [12] và đến nay vẫn được áp dụng rộng rãi.

Tùy theo từng điều kiện cụ thể, quy trình này có thể thay đổi để vận dụng phù hợp và có thể sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau.  Bước 1: Xác định đặc điểm của người yêu cầu thông tin Với các đối tượng yêu cầu thông tin khác nhau thì nội dung thông tin trả lời sẽ khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khảo sát vai trò của dược sĩ thông tin thuốc tại bệnh viện quận 4" của tác giả Huỳnh Phúc Diễm Hoàng, dưới sự hướng dẫn của ThS. Dương Hớn Minh, thuộc Trường Đại Học Nguyễn Tất Thành, tập trung vào việc đánh giá vai trò của dược sĩ trong việc cung cấp thông tin thuốc tại bệnh viện. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ trách nhiệm của dược sĩ trong việc tư vấn và hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của họ trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách mà dược sĩ có thể cải thiện quy trình điều trị và giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc sử dụng thuốc.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác liên quan đến dược sĩ và tư vấn thuốc, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023, nơi nghiên cứu nhu cầu tư vấn thuốc của bệnh nhân điều trị ngoại trú. Bài viết này cũng đề cập đến vai trò của dược sĩ trong việc hỗ trợ bệnh nhân trong quá trình điều trị.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về Nghiên cứu phương pháp định lượng andrographolide trong dược liệu xuyên tâm liên bằng HPTLC, một nghiên cứu liên quan đến dược liệu và vai trò của dược sĩ trong việc phát triển và ứng dụng các phương pháp phân tích thuốc.

Cuối cùng, bài viết Kháng Sinh Dự Phòng Trong Mổ Lấy Thai Tại Bệnh Viện Hùng Vương cũng cung cấp cái nhìn về việc sử dụng kháng sinh trong điều trị, một lĩnh vực mà dược sĩ có thể đóng góp quan trọng trong việc tư vấn và quản lý thuốc.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về vai trò của dược sĩ trong lĩnh vực y tế.