phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 3 chương nội dung và phần phụ lục. Chƣơng I: Thực trạng Giáo dục đại học Việt Nam Chương này đề cập đến các nội dung như tổng quan về Giáo dục đào tạo Việt Nam và vai trò của giáo dục đào tạo; Giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục đào tạo và những vấn đề liên quan đến giáo dục đại học Việt Nam hiện nay. Phần này nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan về giáo dục đại học làm cơ sở cho những phân tích, lý giải về thông tin giáo dục đại học xuất hiện trên báo chí trong chương sau. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng II: Thông tin giáo dục đại học trên báo chí trong những năm 2002 – 2004 Chương này đi sâu vào những đặc điểm chung của thông tin giáo dục đại học trên báo chí.
Chúng tôi cũng đã có sự phân chia những thông tin giáo dục đại học trên báo chí theo một số nội dung chính để dễ phân tích như: các thông tin về tuyển sinh; các thông tin liên quan đến vấn nạn, tiêu cực; thông tin về những thành tựu, những điển hình tích cực và những ý kiến, đề xuất, góp ý nhằm cải cách giáo dục đại học Việt Nam. Chƣơng III: Vai trò của báo chí đối với vấn đề cải cách giáo dục đại học Chương này chúng tôi chủ yếu dựa vào kết quả điều tra xã hội học. Đồng thời chúng tôi căn cứ trên những cải tiến chủ trương, chính sách giáo dục đại học do tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng để khẳng định những tác động cũng như vai trò của báo chí đối với vấn đề cải cách giáo dục đại học trong những năm vừa qua. Một nội dung quan trọng khác trong chương này là đề xuất, định hướng trong thời gian sắp tới nhằm nâng cao hơn hiệu quả thông tin, tuyên truyền của báo chí đối với các vấn đề liên quan đến giáo dục đại học nước nhà.
Phần phụ lục với những nội dung sau: - Mẫu phiếu điều tra xã hội học và tổng hợp kết quả sau khi điều tra - Ý kiến của một số nhà báo về vai trò của báo chí đối với các vấn đề giáo dục - Một vài số liệu thống kê về giáo dục đại học Việt Nam từ 2000 đến 2005 - Một số bài báo viết về giáo dục đại học 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM 1. Giới thiệu chung về giáo dục đào tạo và vai trò của giáo dục đào tạo ở Việt Nam Luật giáo dục Việt Nam khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân”. Giáo dục đào tạo có ý nghĩa quan trọng không chỉ riêng với Việt Nam mà ở bất cứ quốc gia nào cũng vậy, muốn đất nước phát triển thì phải dựa vào nguồn lực chủ yếu là con người. Các tư tưởng chỉ đạo, chủ trương và nhiệm vụ phát triển giáo dục trong thời kỳ đầy mạnh CNH – HĐH đã được xác định trong các văn kiện của Đảng như sau: * Về mục tiêu: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
*Về quan điểm chỉ đạo: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và củng cố quốc phòng an ninh. * Các nhiệm vụ trọng tâm: Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn trên cơ sở đảm bảo chất lượng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn đào tạo với sử dụng, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và xây dựng xã hội học tập.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, có thể nhận thấy giáo dục đào tạo có vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước. GD – ĐT cùng với khoa học công nghệ chính là nhân tố hàng đầu quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển. Quan tâm đến giáo dục chính là quan tâm đến tương lai của đất nước.
Phát triển sự nghiệp giáo dục là góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho công cuộc CNH – HĐH ở nước ta. Giáo dục còn là con đường để mọi người lĩnh hội tri thức. Tri thức là hành trang cần thiết đối với mỗi con người khi bước vào đời. Vì vậy, GD - ĐT có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của mỗi con người.
Giáo dục còn giúp con người phát triển toàn diện, không chỉ có tri thức mà còn sức khoẻ, đạo đức, thẩm mỹ và nghề nghiệp. Thông qua giáo dục con người dần hình thành nhân cách, phẩm chất và năng lực. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Môi trường giáo dục cũng là nơi phát hiện và bồi dưỡng tài năng của mỗi con người.
Chính trong môi trường giáo dục các cá nhân có thể phát huy tư duy, tính sáng tạo, sự chủ động trong tiếp thu kiến thức và trong nhiều lĩnh vực khác. Giáo dục còn là thước đo trình độ dân trí, mức sống của người dân. Tuy Việt Nam vẫn còn là nước nông nghiệp nghèo, lạc hậu nhưng người dân Việt Nam lại được đánh giá là có mức sống cao nhờ vào tỷ lệ gần 94% dân cư từ 15 tuổi trở lên biết chữ. Nhờ vào những thành tựu của giáo dục và các lĩnh vực khác của xã hội mà chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta theo bảng xếp loại của chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) những năm gần đây có nhiều tiến bộ đáng kể: từ 0.456 – xếp 121 – tăng lên 0,682 – xếp 101/174 nước.
So với chỉ số phát triển kinh tế (GDP/người) HDI vượt lên 19 bậc. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi nói về vai trò của giáo dục đào tạo, chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Sự nghiệp trồng người là sự nghiệp hàng đầu, là quá trình lâu dài và đòi hỏi phải có sự chung sức của toàn xã hội. CNH – HĐH là con đường duy nhất đưa đất nước chúng ta thoát khỏi nguy cơ tụt hậu.
Để thực hiện tốt công cuộc này không có gì hữu hiệu hơn là đầu tư phát triển con người. Cách đầu tư quan trọng nhất là đẩy mạnh phát triển GD – ĐT. Theo Luật Giáo dục hiện hành (Quốc hội thông qua tháng 6/2005) hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam hiện nay gồm: - Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo. - Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông - Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề - Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.
Trong quá trình hội nhập cùng thế giới, Việt Nam đang từng bước chuyển mình, xây dựng đất nước ngày một giàu mạnh hơn. Sự biến đổi nào cũng bao hàm nhiều khó khăn và thử thách. Sự biến đổi trong lĩnh vực GD - ĐT lại càng tạo ra nhiều thách thức lớn cho Đảng, Nhà nước cũng như toàn xã hội. Với những nỗ lực, cố gắng của nhiều nơi, nhiều cấp GD - ĐT nước ta có nhiều khởi sắc nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế, yếu kém cần được giải quyết triệt để hơn.
Những thành tựu của GD - ĐT Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước 1975 đến nay, mặc dù nước ta còn nghèo, từng bước xây dựng và phục hồi đất nước sau chiến tranh nhưng GD - ĐT đã đạt được những thành 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tựu quan trọng. Mạng lưới trường học phát triển rộng khắp trên cả nước. Quy mô giáo dục tăng nhanh, bước đầu đáp ứng được nhu cầu học tập của toàn xã hội. Hầu hết các xã trong cả nước, kể cả các xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới, hải đảo đều có trường tiểu học.
Phần lớn các xã ở vùng đồng bằng có trường trung học cơ sở và hầu hết các huyện đều có trường trung học phổ thông. Các tỉnh và nhiều huyện đồng bào dân tộc còn có hệ thống các trường dân tộc nội trú. Cả nước hiện nay có gần 250 trường nội trú và có hơn 100 trường bán trú. Đây là một trong những tín hiệu cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện chủ trương đẩy mạnh công tác giáo dục và thực hiện công bằng xã hội trong GD – ĐT.
Đồng thời, hệ thống trường học rộng khắp cả nước đảm bảo việc thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mọi công dân, tạo điều kiện giúp mọi người dân đều được hưởng lợi ích từ nền giáo dục của nước ta. Số lượng học sinh sinh viên cả nước tăng cao đảm bảo ngăn chặn sự giảm sút quy mô và có bước tăng trưởng khá. Công cuộc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học đã được triển khai trong toàn quốc. Số học viên các lớp xóa mù chữ, sau xóa mù và bổ túc văn hóa nước ta hiện nay trên 600.
Chúng ta đang tiến hành từng bước việc phổ cập trung học cơ sở. Hiện nay Việt Nam có gần 94% dân số biết đọc, biết viết, số năm đi học trung bình của mỗi người là 7,3. Đây là một tỷ lệ cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Điều này cho thấy trình độ dân trí của nước ta ngày càng được nâng cao.
Nếu so với hơn 80% dân số mù chữ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, thì đây là một kết quả to lớn, thể hiện sự cố gắng của toàn Đảng, toàn dân ta. Đây cũng là một thắng lợi quan trọng của nhân dân cả nước trong công cuộc đẩy lùi giặc dốt. Hệ thống giáo dục quốc dân nước ta hiện nay đã bao gồm đủ các cấp học, bậc học, ngành học và phương thức giáo dục.