Chương 1 giới thiệu tổng quát về vấn đề chính sách, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi chính sách, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết bao gồm các khái niệm cơ bản, khung phân tích và những kết quả của những nghiên cứu có liên quan. Chương 3 trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu, mô hình sử dụng để đo lường qui mô nền kinh tế phi chính thức. Chương 4 trình bày kết quả phân tích và các thảo luận.
Cuối cùng, các kết luận và khuyến nghị chính sách sẽ được trình bày ở Chương 5. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH Nội dung Chương 2 trình bày một số khái niệm quan trọng và khung lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu. Dựa trên cơ sở những nghiên cứu đi trước có liên quan, phương pháp và mô hình đo lường qui mô nền kinh tế phi chính thức được xây dựng nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu. Khát quát về nền kinh tế phi chính thức Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến nền kinh tế phi chính thức, thế nhưng vẫn chưa có một định nghĩa chung được thống nhất cho lĩnh vực này.
Thực tế cho thấy, mỗi quốc gia có những đặc điểm kinh tế và hình thái xã hội khác nhau nên tên gọi, cách tiếp cận, cách phân loại, phương pháp đo lường và các đánh giá về khu vực này cũng khác nhau. Ngay cả tên gọi cũng đã cho thấy sự đa dạng và phong phú của nó: Kinh tế phi chính thức (Informal Economy), Kinh tế mờ (Shadow Economy), Kinh tế ngầm (Underground Economy), Kinh tế không được giám sát (Non-observerd Economy),… Dù được gọi bằng nhiều cách khác nhau nhưng tất cả thuật ngữ trên đều thể hiện một điểm chung là phản ánh các hoạt động kinh tế ở một khu vực khác với khu vực kinh tế chính thức trên nhiều phương diện. Một số các định nghĩa thường được sử dụng trong các nghiên cứu quốc tế cho thấy kinh tế phi chính thức bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế không được tính toán vào tổng sản phẩm quốc gia và khó có thể đo lường được (Feige, 1996). Theo Smith (1994, tr.4) định nghĩa “kinh tế phi chính thức bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế xảy ra trên thị trường hàng hóa và dịch vụ, bất kể hợp pháp hay không, không được đo lường và tính toán vào giá trị GDP của một quốc gia”.3 Như vậy, có thể thấy rằng nền kinh tế phi chính thức được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo cách phân loại và khía cạnh phân tích của các nhà nghiên cứu, các tổ chức và các quốc gia.
Tuy nhiên nhìn chung các định nghĩa đều hướng đến tính không chính thức của hệ thống kinh tế này khi không được tính toán vào các số liệu thống kê của mỗi quốc gia. Trong nghiên cứu này, để đảm bảo tính thống nhất thì khái niệm về nền kinh tế phi chính thức sẽ dựa trên khái niệm của Smith (1994), và cũng tương tự như các khái niệm được sử dụng bởi Feige (1989), Schneider & đtg (2003): “Nền kinh tế phi chính thức bao gồm tất cả tất cả các hoạt động kinh tế (hợp pháp hay không hợp pháp) mà nằm ngoài các thống kê tài khoản 3 Các tổ chức quốc tế cũng có những quan niệm khác nhau về nền kinh tế phi chính thức, tham khảo thêm ở phụ lục 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- quốc gia”.2 trình bày bức tranh tổng quát nhất về các hoạt động của nền kinh tế phi chính thức, được sử dụng phổ biến bởi các nhà nghiên cứu.1: Phân loại các hoạt động trong nền kinh tế phi chính thức Loại hình Giao dịch tiền tệ Giao dịch không bằng tiền tệ Trao đổi các hàng hóa bị đánh cắp hoặc Các hoạt Mua bán các hàng hóa bị đánh cắp, sử dụng đồ trộm cắp cho mục đích động bất buôn bán ma túy, hoạt động mại dâm, riêng; sản xuất ma túy phục vụ cho nhu hợp pháp buôn lậu, cờ bạc, cá độ,… cầu cá nhân hoặc trao đổi… Trốn thuế Tránh thuế Trốn thuế Tránh thuế Thu nhập không Các hoạt động Trao đổi các hàng Tự sản xuất, nuôi được báo cáo từ không thực hiện hóa và dịch vụ trồng; các hoạt hoạt động tự sản ký kết hợp đồng hợp pháp động sản xuất Các hoạt xuất kinh doanh. lao động, không mang tính tự cung động hợp Tiền lương, thực hiện các tự cấp,… pháp thưởng, tài sản nghĩa vụ phúc lợi không được kê xã hội,… khai và báo cáo từ các hoạt động hợp pháp. Nguồn: Mirus & Roger (1997); Schneider & Enste (2000, tr.
Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng nền kinh tế phi chính thức4 2. Gánh nặng thuế và các khoản đóng góp xã hội Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, gánh nặng thuế và các khoản đóng góp an sinh xã hội là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự gia tăng qui mô của nền kinh tế phi chính thức (Thomas, 1992; Tanzi, 1980; Giles, 1999; Dell’ Anno, 2003, Schneider, 2002). Về mặt lý thuyết, thuế tác động lên quyết định giữa làm việc và nghỉ ngơi của các cá nhân, và đồng thời cũng kích thích nguồn cung lao động trong nền kinh tế phi chính thức. Theo Schneider & Enste (2002), 4 Rất khó để xác định một cách đầy đủ về các nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của nền kinh tế chính thức.
Bởi mối quan hệ giữa nền kinh tế phi chính thức và các nguyên nhân gây ra nó thường là nội sinh và khó để xác định cái nào là quan hệ nhân quả của cái khác. Do vậy, báo cáo chỉ tập trung trình bày các nguyên nhân chính và bỏ qua một sô khía cạnh xã hội khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- chính sách thuế và phúc lợi xã hội tác động nhiều đến thu nhập trước và sau thuế. Càng nhiều khoản đóng góp thì thu nhập thực nhận sau thuế của người lao động sẽ thấp đi, và nếu khoản chênh lệch này càng lớn thì động cơ để người lao động tham gia và nền kinh tế phi chính thức càng gia tăng.
Sự chênh lệch này phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống an sinh xã hội và gánh nặng thuế ở mỗi quốc gia. Nó không chỉ là vấn đề của thuế suất cao, mà còn là các khoản chi phí giao dịch liên quan đến thủ tục hành chính về thuế, chi phí tuân thủ,… Tất cả các khoản chi phí chính thức và không chính thức này tạo nên gánh nặng tổng thể của thuế, và tất yếu gánh nặng thuế càng cao thì tinh thần đóng thuế càng thấp. Cùng với thuế, các khoản xã hội góp phần làm gia tăng chi phí của lao động trong nền kinh tế chính thức, khuyến khích người lao động rút ra khỏi khu vực kinh tế chính thức để tham gia vào các hoạt động của khu vực phi chính thức nhằm giảm các gánh nặng chi phí và thuế. Hệ thống pháp luật, thể chế và chính phủ Theo Hirschman (1970) và Friedman & đtg (2000), ngoài yếu tố gánh nặng thuế và các khoản đóng góp xã hội thì sự cứng nhắc và sự rườm rà trong các qui định của hệ thống pháp luật cũng đã đưa người lao động, DN và các tổ chức tìm đến khu vực kinh tế phi chính thức ngày càng nhiều hơn.
Một hệ thống chính sách cồng kềnh, hay các qui định, thủ tục quan liêu,… vô hình trung làm gia tăng các khoản “chi phí giao dịch” cho DN và người lao động trong khu vực kinh tế chính chức. Chẳng hạn như: qui định về giấy phép đăng ký với vô số giấy phép con, đi kèm với các thủ tục hành chính; qui định về số giờ lao động, độ tuổi nghỉ hưu, chế độ phúc lợi đối với người lao động,… đã làm giảm đi sự tự do của người lao động, khiến cả DN và người lao động phải chịu những khoản chi phí ngầm ẩn này. Đặc biệt trong nền kinh tế chính thức, những khoản chi phí này thường được các DN chuyển sang cho người lao động gánh chịu. Do đó, càng cho họ một động cơ lớn để chuyển vào khu vực phi chính thức.
Chất lượng thể chế cũng là một nhân tố đưa đến sự phát triển của kinh tế phi chính thức. Một nhà nước pháp quyền với tinh thần thượng tôn pháp luật - ở đó quyền tài sản được đảm bảo, tính thực thi hợp đồng cao sẽ mang lại lợi ích, sự tin tưởng cho các chủ thể trong nền kinh tế, khuyến khích họ tham gia nhiều hơn vào thị trường chính thức. Ngược lại, với chất lượng thể chế thấp, nạn tham nhũng cao đi cùng với trách nhiệm giải trình và minh bạch kém của chính phủ sẽ là động cơ để các DN và cá nhân tham gia vào khu vực phi chính thức – nơi được xem là an toàn và hiệu quả hơn so với hoạt động ở khu vực chính thức. Sự phát triển LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- của khu vực phi chính thức được xem như là một sự thất bại của hệ thống thể chế trong việc thúc đẩy nền kinh tế trị trường hiệu quả (Johnson & Zoido-Lobatón, 1998).
Johnson & Kaufmann (1997) cho rằng các bằng chứng về sự minh bạch của chính phủ có mối quan hệ tiêu cực với tham nhũng. Nghiên cứu của họ cho thấy tham nhũng càng cao, qui mô nền kinh tế phi chính thức càng lớn. Một cách gián tiếp, sự minh bạch của chính phủ sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động của nền kinh tế phi chính thức. Một nghiên cứu khác của Enste (2009) cũng kết luận rằng, trong nền kinh tế chính thức nhiều DN phải đối mặt với một bộ máy quan liêu của chính phủ - với nạn hối lộ và tham nhũng cao và cách thông thường để đi lọt qua những qui định cứng nhắc đó là “đi ngầm”.
Do vậy, đối với đa số các DN không có mối quan hệ với chính quyền, thay vì phải lên tiếng yêu cầu thay đổi chính sách, DN thường chọn lối thoát bằng việc gia nhập nền kinh tế phi chính thức như là sự phản ứng của họ trước hệ thống pháp luật, thể chế, và năng lực quản lý của chính phủ. Sự suy giảm của nền kinh tế chính thức Ngoài những nguyên nhân chủ quan trên, yếu tố khách quan dẫn đến sự gia tăng qui mô của nền kinh tế phi chính thức là xuất phát từ sự suy giảm của nền kinh tế chính thức (Maurin, 1999; Schneider và Enste, 2002; Bajada, 2005; và Schneider, 2009). Các nghiên cứu chỉ ra rằng, các cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra ở các nước đang phát triển thường sẽ để lại hậu quả là tỷ lệ thất nghiệp cao, lạm phát, nợ công và nợ xấu gia tăng.