đặt vấn đề; giới hạn và phạm vi của nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và Phương pháp nghiên cứu. Phần đầu, tác giả lược khảo các tài liệu có liên quan. Phần tiếp theo là phần giới thiệu các phương pháp được sử dụng trong luận văn, trong đó chú trọng đến phương pháp: Khác biệt trong khác biệt - Phương pháp chính của luận văn.
Chương 3: Kết quả của nghiên cứu. Bước đầu bằng phương pháp thống kê mô tả, tác giả mô tả bộ dữ liệu trong đó đặc biệt chú trọng đến các biến số sẽ được sử dụng trong mô hình hồi quy. Các số liệu thống kê mô tả giúp người đọc hình dung ra những khác biệt trong đặc điểm cơ sở của hai nhóm hộ gia đình được sử dụng để phân tích trong nghiên cứu này. Phần cuối cùng là phần trình bày kết quả ước lượng khác biệt về mặt thu nhập của hai nhóm hộ bằng phương pháp khác biệt trong khác biệt kết hợp mô hình hồi quy OLS.
Chương 4 cũng là chương cuối cùng của luận văn. Nội dung của chương này bao gồm phần tóm tắt các phát hiện chính của nghiên cứu và nêu các gợi ý về mặt chính sách. Đồng thời trong chương này, tác giả cũng nêu những hạn chế của luận văn và những gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Page |6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.
Lược khảo tài liệu 1.1 Các tác động của điện đối với thu nhập Cho đến nay, điện vẫn là nguồn năng lượng chưa thể thay thế, đóng vai trò thiết yếu đối với sự phát triển của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Các nghiên cứu đi trước cũng đã chỉ ra rằng, có một mối liên hệ chặt chẽ giữa việc phát triển và sử dụng nguồn điện đối với những nỗ lực nhằm nâng cao mức sống cho người dân, đặc biệt cho người dân nông thôn ở các vùng sâu, vùng xa và nhóm người thuộc các dân tộc thiểu số. Ở Việt Nam, trước khi cuộc điều tra đánh giá về tác động của chương trình điện khí hóa nông thôn do WB, MOI và Viện XHH tiến hành, chưa có một nghiên cứu sâu và cụ thể về vấn đề này. Tuy nhiên trên thế giới, các công trình nghiên cứu liên quan cho thấy, năng lượng điện đóng vai trò không thể thiếu cho sự phát triển bền vững của bất cứ một quốc gia nào.
Theo ADB (2003) việc cung cấp điện năng một cách hiệu quả đã giúp (i) cải thiện điều kiện sống của người dân, nâng cao dân trí và mở rộng hệ thống y tế và (ii) giúp nông dân nghèo nâng cao năng lực sản xuất, tăng năng suất cây trồng, tạo thêm nhiều việc làm mới và cải thiện nguồn thu nhập. WB (2002) cũng đưa ra các kết luận khi nghiên cứu tác động của chương trình điện khí hoá nông thôn tại Bangladesh. Theo đó, trong phạm vi hộ gia đình, chương trình đã mang lại nhiều ảnh hưởng tích cực đối với người dân thông qua việc môi trường sống được cải thiện một cách rõ rệt, mức thu nhập được nâng cao. Các yếu tố khác như trình độ văn hóa, khả năng tiếp cận thông tin, y tế giáo dục v.
cũng đều có những chuyển biến tích cực. Nếu chỉ tính riêng về mặt thu nhập, thu nhập trung bình của hộ gia đình có điện thuộc xã có dự án cao hơn thu nhập của những hộ không có điện trong các xã không có dự án là 64,5% và cao hơn 126,1% so với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Page |7 những hộ gia đình trong cùng xã nhưng không sử dụng điện. Ngoài ra nghiên cứu còn đi đến các kết luận là: (i) 9,3 % tổng thu nhập trong các hộ gia đình nông thôn ở Bangladesh là do đóng góp của việc có sử dụng điện và (ii) giả định rằng, tất cả các hộ gia đình nông thôn đều có điện thì tổng thu nhập - theo thời giá hiện hành - sẽ tăng lên tới 1. trong khi hiện tại con số đó chỉ là 1.
Như vậy thu nhập ròng hàng năm sẽ tăng thêm 671 tỷ Tk. (trong đó 290,8 tỷ Tk.hay 43,3% giá trị tăng thêm đó là do có điện). Ước tính thu nhập ròng hàng năm do 100% số hộ gia đình được điện khí hóa sẽ tương đương với 26% GDP hiện tại (khoảng 2. - tính theo tỷ giá thời điểm tiến hành nghiên cứu).
Đồng thời, nghiên cứu cũng kết luận, điện làm gia tăng 16,4% trong tổng thu nhập của các hộ gia đình sử dụng điện trong khi nó chỉ làm gia tăng 12% đối với các hộ không sử dụng điện (thuộc các xã có dự án) (Ngoại tác tích cực). Tại Indonesia, từ 1989-90 đến 2000-01, chương trình điện khí hóa nông thôn đã góp phần làm tăng thu nhập trung bình hằng năm 8,4% cho mỗi hộ gia đình, đồng thời góp phần tạo thêm các cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho 31% số người trả lời (JBIC, 2002). Nghiên cứu của tổ chức JICA tại Vanuatu cho thấy, có điện, cuộc sống của người dân đã thay đổi một cách rõ rệt. Thu nhập của hộ gia đình được cải thiện đáng kể do thời gian làm việc được kéo dài hơn (JICA, 2000).
Kết quả của Báo cáo: Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam (IDS, 2005) cho thấy, điện là yếu tố có ý nghĩa thống kê trong phân tích thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình nông thôn, nơi 71% hộ gia đình có điện. Tuy nhiên ở thành thị, nơi có 98% hộ có điện thì ngược lại, điện không phải là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến chi tiêu và thu nhập. Từ kết quả của các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy điện đóng vai trò lớn trong việc góp phần nâng cao thu nhập của hộ gia đình nói chung và bản thân các cá nhân nói riêng. Tuy nhiên để ước lượng suất sinh lợi của việc sử dụng điện, những phương pháp nghiên cứu nào đã và đang được sử dụng? Phần tiếp sau đây sẽ đề cập đến vấn đề này.
1 Đơn vị tiền tệ của Bangladesh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Các phương pháp đánh giá tác động của điện đối với đời sống của người dân vùng nông thôn Trước đây trong các nghiên cứu của mình, Ngân hàng Thế giới thường dùng hai chỉ số chi tiêu (expenditures) và chi phí tiết kiệm được (cost savings) để đo lường lợi ích. Tuy nhiên trong một số nghiên cứu khác, thuế được sử dụng như là công cụ đo lường. Lý luận của việc sử dụng thuế dựa trên giả định rằng người ta sẵn lòng trả cho các dịch vụ điện ít nhất bằng với mức thuế phải trả.
Việc sử dụng thước đo này có thể là một cách dễ dàng để lượng hóa các lợi ích nhưng nó cũng rất dễ dẫn tới những sai lầm không đáng có. Nếu trong thuế đã bao gồm cả phần trợ cấp của chính phủ thì sử dụng thuế để đo lường lợi ích sẽ dẫn tới sai lầm nghiêm trọng. Trong trường hợp này, tổng lợi ích của xã hội không bằng với tổng lợi ích của tất cả người tiêu dùng. Trong một số nghiên cứu khác, WB sử dụng khái niệm thặng dư người tiêu dùng để ước lượng tổng lợi ích của việc sử dụng điện.
Tuy nhiên, thặng dư người tiêu dùng chỉ được tối đa hoá trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo. Nếu giá thị trường được quyết định bởi một nhà độc quyền hoặc sản phẩm đó là một hàng hóa công được chính phủ trợ cấp thì việc dùng thước đo thặng dư người tiêu dùng để đo lợi ích sẽ là không thỏa đáng. Cả hai điều này lại rất đúng với hàng hoá là điện tại Việt Nam. Do đó sẽ không chính xác khi tính lợi ích của người tiêu dùng điện ở Việt Nam thông qua việc tính toán mức thặng dư người tiêu dùng.
Mặt khác, nếu có thể quan sát tất cả các mức tiêu thụ điện của các hộ gia đình ở các mức giá khác nhau, thì diện tích dưới đường cầu chính là tổng lợi ích của người tiêu dùng. Giả định rằng mức sẵn lòng chi trả bằng ít nhất với tổng lợi ích nhận được thì đường cầu cung cấp một thang đo lợi ích tại mỗi mức tiêu thụ điện. Như vậy lợi ích của dự án chính là mức thặng dư người tiêu dùng. Thang đo này được dùng để đánh giá hiệu quả tiềm năng của dự án.
Song việc dùng thang đo thặng dư người tiêu dùng cũng làm nảy sinh một số vấn đề sau: Thứ nhất: rất khó có thể quan sát các mức tiêu dùng tại các mức giá khác nhau. Thứ hai: phương pháp trên giả định mức tiêu dùng không phụ thuộc vào độ lớn của thu nhập. Thêm một giả định hợp lý nữa là đường cầu sẽ dịch chuyển lên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Page |9 trên về phía bên phải khi thu nhập tăng lên. Như vậy tại một mức giá bất kỳ, người có mức thu nhập cao hơn sẽ có xu hướng tiêu dùng nhiều điện năng hơn.
Ngoài ra trong trường hợp giá điện giảm, mức tiêu thụ này còn ảnh hưởng do tác động thay thế và tác động thu nhập. Theo cách tiếp cận này, tác động thay thế và tác động thu nhập bị bỏ qua. Thứ ba: cách tiếp cận trên giả định đường cầu không phụ thuộc vào mức giá cũng như mức tiêu thụ của hàng hóa và dịch vụ thay thế. Đường cầu sẽ dịch chuyển ra bên ngoài nếu giá của các mặt hàng phụ trợ trở nên rẻ một cách tương đối.
Ngược lại, đường cầu sẽ dịch chuyển vào bên trong nếu sản phẩm thay thế trở nên rẻ hơn v. Về mặt nguyên tắc, để ước lượng lợi ích mà chương trình mang lại, người ta sẽ tính toán sự khác nhau trong lợi ích được hưởng thụ của cả hộ có và không sử dụng điện. Cộng tổng các mức lợi ích đó lại - tương đương với mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình - willing to pay - (WTP) sẽ ra tổng lợi ích của việc sử dụng điện. Do đó trong một số nghiên cứu liên quan đến đo lường lợi ích, WB cũng áp dụng cách tính toán mức WTP dựa trên giả định số tiền người tiêu dùng sẵn sàng chi trả để đổi lấy việc được tiêu dùng điện chính là lợi ích của việc sử dụng điện.
Song thước đo WTP chỉ chính xác khi đi kèm với nó là những giả định chặt chẽ, rất khó đáp ứng được trên thực tế.