Luận văn: Ứng dụng XML trong giáo dục tại Đại học Quy Nhơn

Luận văn thạc sĩ về XML và ứng dụng XML trong giáo dục đào tạo tại Đại học Quy Nhơn. Tìm hiểu về tiềm năng của XML trong cải tiến quy trình dạy và học.

Chuyên ngành

Công Nghệ Thông Tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2004

112
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Trang bìa phụ

Danh mục các thuật ngữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ

1. Chƣơng 1: TRANG WEB VÀ MỘT SỐ CÔNG NGHỆ

1.1. Giới thiệu về mạng máy tính

1.2. Internet - Mạng máy tính toàn cầu

1.3. Cơ chế hoạt động của Internet và các tổ chức liên quan

1.4. Tài nguyên trên Internet

1.5. Một số dịch vụ thông tin phổ biến trên Internet

1.6. WWW với mô hình khách chủ

1.7. Mô hình khách chủ

1.8. Đánh giá ƣu và nhƣợc điểm

1.9. Giao thức truyền thông HTTP

1.10. Bộ định vị tài nguyên phổ dụng URL. Siêu liên kết

1.11. Bộ giao tiếp cổng chung CGI

1.12. Ứng dụng theo chuẩn ISAPI

1.13. Phân loại trang Web

1.14. Trang Web tĩnh

1.15. Trang Web động

1.16. Ngôn ngữ định dạng văn bản HTML

1.17. Công nghệ ASP

1.18. Giới thiệu chung

1.19. Sử dụng giải pháp ADO

1.20. Nhận xét về ASP

1.21. Ngôn ngữ lập trình sử dụng với ASP

1.22. Các đối tƣợng ASP

1.23. Ngôn ngữ lập trình PHP

1.24. Giới thiệu chung

1.25. Giới thiệu lập trình PHP

1.26. PHP và MySQL Session, Cookie

2. Chƣơng 2: NGÔN NGỮ ĐỊNH DẠNG MỞ RỘNG XML

2.1. XML-eXtensible Markup Language

2.2. Giới thiệu chung

2.3. Tài liệu XML

2.4. Cấu trúc của tài liệu XML

2.5. Các thành tố cơ bản trong tài liệu XML

2.6. Cấu trúc tài liệu hợp khuôn dạng

2.7. Định nghĩa kiểu tƣ liệu-DTD và tính hợp lệ của XML

2.8. Tạo định nghĩa kiểu tƣ liệu-DTD

2.9. Quy định thành phần, thực thể và thuộc tính trong DTD

2.10. Lƣợc đồ XML và không gian tên

2.11. Quy định kiểu đơn giản và kiểu phức tạp

2.12. Không gian tên của XML. So sánh giữa DTD và XML Schema

2.13. Bảng định kiểu CSS. Giới thiệu về CSS

2.14. Trình bày và định dạng văn bản với CSS

2.15. XSL và XPATH

2.16. XLINK và XPOINT

2.17. Phân tích XML theo mô hình DOM

2.18. Cấu trúc XML theo mô hình tài liệu DOM

2.19. Phân tích tài liệu XML theo mô hình tài liệu DOM

2.20. Đánh giá XML

2.21. Nhƣợc điểm

2.22. So sánh giữa XML và công nghệ khác

2.23. So sánh XML với HTML

2.24. So sánh XML với ASP, PHP

3. Chƣơng 3: THÍ DỤ XML TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

3.1. Trình soạn thảo XML Writer

3.2. Thực hiện cài đặt XML Writer

3.3. Thí dụ ứng dụng XML về soạn bài giảng. Phạm vi nghiên cứu

3.4. Mô tả hệ thống

3.5. Thiết kế cơ sở dữ liệu

3.6. Thiết kế dữ liệu

3.7. Xây dựng tài liệu XML

3.8. Thiết kế xử lý

3.9. Thiết kế giao diện

3.10. Trang soạn bài giảng

3.11. Trang soạn nội dung bài giảng

3.12. Trang lƣu trữ thông tin bài giảng thành file XML

3.13. Trang xem bài giảng

3.14. Trang hiển thị bài giảng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Ứng Dụng XML Trong Giáo Dục Đại Học Hiện Nay

Công nghệ thông tin ngày càng phát triển, việc ứng dụng các công nghệ mới vào giáo dục đại học trở nên vô cùng quan trọng. XML (eXtensible Markup Language) đóng vai trò then chốt trong việc tổ chức, lưu trữ và trao đổi dữ liệu, giúp nâng cao hiệu quả quản lý và giảng dạy. Theo luận văn của Phan Đình Sinh, XML là ngôn ngữ tổng quát dùng định nghĩa dữ liệu thông qua các thẻ tự định nghĩa. Vào năm 2004, số trang Web trên Internet ngày càng nhiều, khoảng gần 2 tỷ. Hầu hết các trang Web đều đƣợc viết bằng HTML_ngôn ngữ định dạng dữ liệu bằng thẻ đặc biệt trong tập tin văn bản. XML tuy dựa trên cùng công nghệ nhƣ HTML, nhƣng nó quán xuyến tốt hơn nhiệm vụ quản lý thông tin cần thiết cho Internet. XML không chỉ đơn thuần là ngôn ngữ tạo trang web, nó còn là ngôn ngữ tạo ngôn ngữ khác. Điều này có nghĩa XML cho phép định nghĩa các ngôn ngữ đánh dấu riêng, phục vụ cho những mục đích chuyên biệt. Điển hình là MathML (định dạng toán học), CML (định dạng hóa học) và nhiều ứng dụng khác. Trong giáo dục đại học, lợi ích của XML trong giáo dục đại học là vô cùng lớn, từ việc xây dựng hệ thống thông tin giáo dục đến quản lý học liệu sốbài giảng trực tuyến. Việc sử dụng XML giúp chuẩn hóa dữ liệu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích hợp các hệ thống khác nhau và trao đổi thông tin giữa các trường đại học. Tuy nhiên, việc triển khai XML cũng đặt ra một số thách thức khi triển khai XML trong giáo dục, đặc biệt là về mặt kỹ thuật và nguồn lực. Cần có sự đầu tư thích đáng để đảm bảo việc ứng dụng XML hiệu quả và bền vững.

1.1. Tổng quan về XML và chuẩn trao đổi dữ liệu giáo dục

XML là ngôn ngữ đánh dấu mở rộng cho phép định nghĩa các thẻ tùy chỉnh để mô tả dữ liệu. Trong giáo dục, XML trong hệ thống thông tin giáo dục giúp chuẩn hóa việc trao đổi thông tin sinh viên, khóa học, chương trình đào tạo. Việc này đặc biệt quan trọng đối với các trường đại học có nhiều cơ sở hoặc liên kết với các tổ chức giáo dục khác. XML đảm bảo tính nhất quán và dễ dàng tích hợp dữ liệu giữa các hệ thống.

1.2. Ưu điểm của XML so với các định dạng khác trong giáo dục

So với các định dạng dữ liệu truyền thống như CSV hay TXT, XML có cấu trúc rõ ràng và khả năng mở rộng cao hơn. Điều này giúp XML dễ dàng xử lý và tích hợp vào các ứng dụng khác nhau. XML hỗ trợ việc kiểm tra tính hợp lệ của dữ liệu, đảm bảo tính chính xác và tin cậy. Ngoài ra, XML còn có khả năng mô tả dữ liệu phức tạp, phù hợp với các yêu cầu quản lý thông tin đa dạng trong giáo dục đại học.

1.3. XML và các ứng dụng web trong giáo dục Xu hướng phát triển

XML đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các ứng dụng web trong giáo dục. XML cho phép tạo ra các trang web động, tùy biến nội dung dựa trên thông tin người dùng. XML cũng được sử dụng để trao đổi dữ liệu giữa các ứng dụng web khác nhau, giúp tạo ra một hệ sinh thái giáo dục trực tuyến tích hợp và hiệu quả.

II. Thách Thức Khó Khăn Khi Triển Khai XML Trong Trường Đại Học

Mặc dù XML mang lại nhiều lợi ích, việc triển khai XML trong giáo dục đại học không phải lúc nào cũng dễ dàng. Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu hụt nguồn nhân lực có kỹ năng chuyên môn về XML. Việc thiết kế, xây dựng và quản lý các cơ sở dữ liệu giáo dục sử dụng XML đòi hỏi kiến thức sâu rộng về ngôn ngữ này cũng như các công nghệ liên quan. Ngoài ra, việc chuyển đổi từ các hệ thống cũ sang hệ thống mới dựa trên XML có thể tốn kém và phức tạp. Cần có kế hoạch chi tiết và sự chuẩn bị kỹ lưỡng để đảm bảo quá trình chuyển đổi diễn ra suôn sẻ và không gây ảnh hưởng đến hoạt động của trường. Một vấn đề khác cần quan tâm là tính bảo mật của dữ liệu. Dữ liệu giáo dục thường chứa thông tin cá nhân của sinh viên và giảng viên, cần được bảo vệ cẩn thận khỏi các truy cập trái phép. Việc sử dụng XML phải đi kèm với các biện pháp bảo mật phù hợp để đảm bảo an toàn cho dữ liệu. Thêm vào đó, như Phan Đình Sinh đã đề cập, HTML có khoảng trên 120 thẻ đã định nghĩa. Trình duyệt Web có thể kiểm tra các thẻ này và hiển thị nội dung tài liệu trong khuôn khổ các thẻ quy định trƣớc. Nhƣng trái lại, các thẻ trong XML là do tự định nghĩa và tùy ý quyết định mục đích sử dụng thẻ nên các nó tuân theo một quy tắc định nghĩa bắt buộc.

2.1. Thách thức khi triển khai XML trong giáo dục Chi phí và nguồn lực

Việc triển khai XML đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu cho phần mềm, phần cứng và đào tạo nhân lực. Các trường đại học cần có kế hoạch tài chính rõ ràng để đảm bảo có đủ nguồn lực để thực hiện dự án. Ngoài ra, việc duy trì và nâng cấp hệ thống XML cũng đòi hỏi nguồn lực liên tục.

2.2. Khó khăn trong việc tích hợp XML với các hệ thống hiện có

Nhiều trường đại học đang sử dụng các hệ thống quản lý thông tin cũ, việc tích hợp XML vào các hệ thống này có thể gặp nhiều khó khăn. Cần có sự tương thích giữa các hệ thống để đảm bảo dữ liệu được trao đổi một cách chính xác và hiệu quả. Việc tích hợp có thể đòi hỏi sự tùy chỉnh hoặc thay đổi lớn trong cấu trúc hệ thống.

2.3. Vấn đề bảo mật dữ liệu giáo dục khi sử dụng XML

XML cho phép mô tả dữ liệu chi tiết, điều này cũng đồng nghĩa với việc thông tin nhạy cảm có thể bị lộ nếu không được bảo vệ cẩn thận. Cần có các biện pháp mã hóa dữ liệu, kiểm soát truy cập và giám sát hoạt động để đảm bảo tính bảo mật của dữ liệu giáo dục.

III. Giải Pháp Sử Dụng XML trong bài giảng trực tuyến hiệu quả

XML có thể được sử dụng để mô tả cấu trúc và nội dung của bài giảng trực tuyến. Bằng cách sử dụng các thẻ XML, có thể định nghĩa các thành phần của bài giảng như tiêu đề, nội dung, hình ảnh, video, bài tập, v.v. Điều này giúp tạo ra các bài giảng có cấu trúc rõ ràng, dễ dàng tìm kiếm và tái sử dụng. Hơn nữa, XML cho phép tạo ra các bài giảng tương tác, cho phép sinh viên tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động. Ví dụ, có thể sử dụng XML để tạo ra các bài kiểm tra trực tuyến, các diễn đàn thảo luận hoặc các trò chơi giáo dục. Việc sử dụng XML giúp nâng cao tính hấp dẫn và hiệu quả của XML và e-learning. Ngoài việc sử dụng XML để mô tả nội dung, Phan Đình Sinh cũng đề xuất việc xây dựng một thí dụ ứng dụng về XML bằng việc tổ chức và thiết kế dữ liệu một bài giảng thành file XML theo mô hình DOM (Document Object Model).

3.1. XML cho học liệu số Tạo cấu trúc bài giảng linh hoạt

XML cho phép tạo ra các học liệu số có cấu trúc linh hoạt, dễ dàng tùy chỉnh và tái sử dụng. XML có thể được sử dụng để mô tả các loại học liệu khác nhau như sách điện tử, bài giảng, video, hình ảnh, bài tập, v.v. Điều này giúp tạo ra một kho học liệu phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu học tập của nhiều đối tượng sinh viên.

3.2. Sử dụng XML trong bài giảng trực tuyến Tăng tính tương tác

XML cho phép tạo ra các bài giảng trực tuyến tương tác, cho phép sinh viên tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động. XML có thể được sử dụng để tạo ra các bài kiểm tra trực tuyến, các diễn đàn thảo luận hoặc các trò chơi giáo dục. Điều này giúp nâng cao tính hấp dẫn và hiệu quả của XML trong giảng dạy.

3.3. XML trong quản lý đào tạo Theo dõi tiến độ học tập

XML có thể được sử dụng để theo dõi tiến độ học tập của sinh viên, đánh giá kết quả học tập và cung cấp phản hồi kịp thời. XML có thể được tích hợp với các hệ thống quản lý học tập (LMS) để tự động hóa quá trình theo dõi và đánh giá. Điều này giúp giảng viên có thể tập trung vào việc giảng dạy và hỗ trợ sinh viên.

IV. Ứng Dụng XML trong lưu trữ và truy xuất dữ liệu giáo dục

XML có thể được sử dụng để lưu trữ và truy xuất dữ liệu giáo dục một cách hiệu quả. Bằng cách sử dụng các thẻ XML, có thể mô tả các loại dữ liệu khác nhau như thông tin sinh viên, thông tin khóa học, chương trình đào tạo, điểm số, v.v. Điều này giúp tạo ra một cơ sở dữ liệu giáo dục có cấu trúc rõ ràng, dễ dàng truy vấn và phân tích. Hơn nữa, XML cho phép trao đổi dữ liệu giữa các hệ thống khác nhau, giúp tạo ra một hệ sinh thái giáo dục tích hợp và hiệu quả. XML có thể được sử dụng để chia sẻ thông tin giữa các trường đại học, các tổ chức giáo dục và các nhà tuyển dụng. Theo luận văn của Phan Đình Sinh, do việc trao đổi dữ liệu giữa hai trạm làm việc ở hai khu vực khác nhau nên tính an toàn và bảo mật thông tin có thể không đƣợc đảm bảo.

4.1. XML và cơ sở dữ liệu giáo dục Giải pháp quản lý toàn diện

XML cho phép xây dựng các cơ sở dữ liệu giáo dục có cấu trúc linh hoạt, dễ dàng mở rộng và tùy chỉnh. XML có thể được sử dụng để lưu trữ các loại dữ liệu khác nhau như thông tin sinh viên, thông tin khóa học, chương trình đào tạo, điểm số, v.v. Điều này giúp tạo ra một giải pháp quản lý toàn diện cho giáo dục đại học.

4.2. XML trong lưu trữ và truy xuất dữ liệu Nâng cao hiệu quả

XML cho phép lưu trữ và truy xuất dữ liệu một cách hiệu quả, giúp tiết kiệm thời gian và công sức cho người dùng. XML hỗ trợ việc truy vấn dữ liệu bằng các ngôn ngữ truy vấn như XPath và XQuery. Điều này giúp người dùng có thể dễ dàng tìm kiếm và trích xuất thông tin cần thiết.

4.3. XML và cổng thông tin giáo dục Truy cập thông tin dễ dàng

XML có thể được sử dụng để xây dựng các cổng thông tin giáo dục, cho phép người dùng truy cập thông tin một cách dễ dàng và nhanh chóng. XML có thể được sử dụng để hiển thị thông tin từ nhiều nguồn khác nhau trên một giao diện duy nhất. Điều này giúp người dùng tiết kiệm thời gian và công sức khi tìm kiếm thông tin.

V. Kết Luận Tương Lai Của Ứng Dụng XML Trong Giáo Dục Đại Học

Ứng dụng XML trong giáo dục đại học có tiềm năng phát triển rất lớn trong tương lai. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, XML sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý, giảng dạy và nghiên cứu. Tuy nhiên, để khai thác tối đa lợi ích của XML, cần có sự đầu tư thích đáng về nguồn lực và kỹ năng chuyên môn. Các trường đại học cần chủ động tìm hiểu và áp dụng XML vào các hoạt động của mình để nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục. Cần có sự hợp tác giữa các trường đại học, các tổ chức giáo dục và các nhà cung cấp công nghệ để phát triển các tiêu chuẩn và ứng dụng XML phù hợp với nhu cầu của giáo dục đại học.

5.1. XML và chuẩn trao đổi dữ liệu giáo dục Hướng tới sự liên kết

XML sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các chuẩn trao đổi dữ liệu giáo dục, giúp các trường đại học dễ dàng chia sẻ thông tin và hợp tác với nhau. Cần có sự thống nhất về các chuẩn dữ liệu để đảm bảo tính tương thích và hiệu quả của việc trao đổi thông tin.

5.2. XML trong giảng dạy và học tập Cá nhân hóa trải nghiệm

XML sẽ cho phép cá nhân hóa trải nghiệm giảng dạy và học tập, đáp ứng nhu cầu của từng sinh viên và giảng viên. XML có thể được sử dụng để tạo ra các tài liệu học tập tùy chỉnh, các bài giảng phù hợp với trình độ của từng sinh viên.

5.3. Lợi ích của XML trong giáo dục đại học Nâng cao chất lượng

Việc ứng dụng XML trong giáo dục đại học sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục, giúp sinh viên có được kiến thức và kỹ năng cần thiết để thành công trong tương lai. XML sẽ tạo ra một môi trường học tập linh hoạt, tương tác và hiệu quả.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Ngày nay, Công nghệ thông tin đã thật sự thông dụng và đang có những bƣớc phát triển mạnh mẽ trong rất nhiều lĩnh vực nhƣ kinh tế, văn hóa giải trí, quảng cáo du lịch, giáo dục,. Với hàng tỉ trang Web nhƣ hiện nay cho thấy lƣợng thông tin trên Internet là quá lớn, việc tổ chức và xử lý chúng là vấn đề rất cần thiết. Tôi chọn luận văn “XML và ứng dụng XML trong giáo dục đào tạo tại trƣờng Đại học Quy Nhơn” với mục đích chính là tìm hiểu, khai thác và sử dụng ngôn ngữ định dạng mở rộng XML (eXtensible Markup Language), từ đó rút ra các ƣu và nhƣợc điểm của nó. Qua việc tìm hiểu XML, xây dựng một thí dụ ứng dụng về XML bằng việc tổ chức và thiết kế dữ liệu một bài giảng thành file XML theo mô hình DOM (Document Object Model).

Luận văn bao gồm các chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Trang Web và một số công nghệ Chƣơng này giới thiệu tổng quan về Internet, các dịch vụ phổ biến của nó và các giao thức truyền thông chính trên môi trƣờng mạng hiện nay. Giới thiệu vai trò của Web, công nghệ ASP, công nghệ PHP. Chƣơng 2: Ngôn ngữ định dạng mở rộng XML Chƣơng này giới thiệu về ngôn ngữ định dạng mở rộng XML (eXtensible Markup Language), cấu trúc của ngôn ngữ, một số cách định kiểu dữ liệu, rút ra ƣu và nhƣợc điểm của XML,… Chƣơng 3: Thí dụ XML tại trƣờng Đại học Quy nhơn Chƣơng này giới thiệu cài đặt cách cài đặt chƣơng trình soạn thảo XML Writer. Xây dựng thí dụ ứng dụng XML trong việc soạn bài giảng, phân tích, thiết kế và tổ chức dữ liệu một bài giảng theo mô hình DOM.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế rất mong nhận đƣợc sự góp ý, chỉ bảo quý báu của các thầy cô giáo cũng nhƣ các bạn học viên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TRANG WEB VÀ MỘT SỐ CÔNG NGHỆ 1. Giới thiệu về mạng máy tính Trong xu thế toàn cầu hiện nay, máy tính và các hệ thống mạng máy tính ngày càng phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực nhƣ văn hóa, giáo dục, kinh tế,… Mạng máy tính là hệ thống các máy tính độc lập đƣợc kết nối với nhau. Việc kết nối đƣợc giữa các máy tính giúp cho chúng có khả năng trao đổi thông tin và các mạng máy tính có những ƣu điểm sau: Chia sẻ tài nguyên: Chƣơng trình, dữ liệu, các thiết bị có thể đƣợc dùng bởi ngƣời dùng từ các máy tính đƣợc kết nối trong mạng.

Tài nguyên mạng đƣợc phân bố và lƣu trữ một cách hợp lý. Tăng độ tin cậy và độ sẵn sàng của toàn bộ hệ thống: Nếu một máy tính hay một đơn vị dữ liệu bị hỏng thì luôn có nhiều nguồn dữ liệu khác hay một bản sao khác của dữ liệu thay thế. Tăng hiệu suất sử dụng thiết bị tính toán và tiết kiệm chi phí: Do tài nguyên dùng chung, hệ thống tin cậy hơn nên chi phí thiết bị và bảo dƣỡng của mạng máy tính thấp hơn so với các máy tính đơn lẻ cũng nhƣ hiệu suất làm việc đƣợc tăng lên. Tạo ra môi trƣờng truyền thông giữa nhiều ngƣời sử dụng trên phạm vi địa lý rộng: việc trao đổi thông tin giữa các ngƣời dùng nhanh chóng và kịp thời.

Mạng thông tin máy tính là một máy tính khổng lồ; là một tập hợp hữu cơ các tài nguyên tính toán (bao gồm thiết bị, phần mềm, số liệu đƣợc chia sẻ); là một tập hợp các chức năng tính toán (có thể bổ sung và thay thế cho nhau) và là một tập hợp của tải tính toán (có thể đƣợc cân đối và chia sẻ hợp lý). Một số loại mạng máy tính tiêu biểu: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mạng cục bộ LAN: Đầu những năm 70, bộ giao thức truyền thông TCP và IP bắt đầu đƣợc phát triển và gọi chung là giao thức truyền thông TCP/IP. Trong thời gian này, công nghệ mạng cục bộ Ethernet cũng ra đời. Mạng cục bộ là tập hợp các thiết bị tính toán, các thiết bị ngoại vi, đƣợc kết nối với nhau trong phạm vi hẹp.

Mạng đƣợc sử dụng trong phạm vi kết nối địa lý nhỏ: trong một phòng làm việc, trong một công ty, một tòa nhà,. , khoảng cách tƣơng đối nhỏ, tốc độ trao đổi số liệu cao (từ 1 Mbit/s đến 100Mbit/s), độ trễ nhỏ. Mạng MAN là mạng đƣợc tổ chức kết nối theo phạm vi địa lý nhƣ trong một đô thị hay một trung tâm kinh tế-xã hội,. Mạng diện rộng WAN là mạng đƣợc tổ chức kết nối phân cấp theo phạm vi địa lý có thể bao trùm một vùng rộng lớn nhƣ một quốc gia hay lục địa,.

Liên mạng là tập hợp các mạng máy tính toàn cầu, đƣợc kết nối với nhau trên cơ sở bộ giao thức trao đổi số liệu TCP/IP. Trên thế giới, có nhiều loại hệ thống mạng, chúng thƣờng khác nhau về phần cứng và cả phần mềm. Để tổ chức kết nối và trao đổi số liệu giữa hai loại mạng khác nhau cần sử dụng Gateway và thực hiện những chuyển đổi cần thiết cả về phần cứng và phần mềm [6]. Internet - Mạng máy tính toàn cầu Internet đƣợc tạo ra bằng việc kết nối các mạng máy tính với nhau trong một mạng chung rộng lớn mang tính toàn cầu, đáp ứng ngày càng phong phú hầu hết các dịch vụ thông tin liên lạc của xã hội.

Cơ chế hoạt động của Internet và các tổ chức liên quan Internet là một mạng của các mạng nên không có sự điều hành của bất kỳ cơ quan chủ quản. Internet đƣợc xem nhƣ một thực thể ngoại giao không thể kiểm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com soát và bị kiểm soát bởi bất cứ một tổ chức hay một quốc gia nào, ngƣợc lại nó đƣợc điều hành trên nguyên tắc chung cùng hợp tác. Để duy trì sự ổn định và trật tự của nó đƣợc quy định từ mỗi mạng thành phần. Chính sách quản lý sử dụng riêng đó hạn chế những quyền của ngƣời sử dụng đƣợc phép và không đƣợc phép nhƣ các hành động quấy nhiễu, phá hoại, sử dụng tài khoản khác,.

sự vi phạm tùy theo mức độ có thể bị từ chối cung cấp dịch vụ truy cập mạng hay bị truy tố trƣớc pháp luật. Mặc dù không có cơ quan chủ quản nhƣng có nhiều tổ chức liên quan đến Internet nhƣ Các trung tâm thông tin nhƣ InterNIC, APNIC,. thực hiện việc cung cấp địa chỉ mạng, tên miền,. cung cấp các dịch vụ và đăng ký vào cộng đồng Internet.

Hiệp hội Internet là tổ chức phi lợi nhuận hƣớng vào các hoạt động hoàn thiện Internet và những kỹ thuật của nó. Liên hiệp thông tin mạng: Định các hoạt động vào hoàn thiện liên kết mạng trong lĩnh vực giáo dục nhằm nâng cao năng suất hoạt động trí tuệ. Tài nguyên trên Internet Internet là một mạng của các mạng, nó liên kết hàng triệu triệu máy tính thành phần trên toàn cầu, kéo theo đó là các kho tài nguyên thông tin của các mạng này. Nhờ các dịch vụ phát triển trên mạng, các kho tài nguyên đó đƣợc tổng hợp thành một kho tài nguyên chung rất đa dạng và phong phú về nội dung lẫn hình thức.

Sự đa dạng xuất phát từ chính sự đa dạng của các mạng thành phần. Các thông tin cũng do chính các mạng thành phần cung cấp hay nói đúng hơn là do chính ngƣời sử dụng có liên quan tạo ra và bảo quản nên nó đƣợc cập nhật thƣờng xuyên hoặc mỗi khi có thay đổi bởi chính những ngƣời chủ của nguồn thông tin. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chúng ta có thể tìm thấy mọi thứ trên Internet, những bản tin mới nhất, những thông tin về thời sự, chính trị, văn hóa, khoa học giáo dục, danh mục kho sách của nhiều thƣ viện nổi tiếng, các bảng chào hàng, chƣơng trình quảng cáo, các chƣơng trình ca nhạc, phim,. Do nhu cầu cập nhật, trao đổi thông tin ngày càng tăng.

Dẫn đến tốc độ tăng trƣởng của kho tài nguyên này và kết hợp với tốc độ phát triển của Internet cũng tăng một cách chóng mặt nhằm đáp ứng nhu cầu trên. Một số dịch vụ thông tin phổ biến trên Internet Mục đích của các nhà thiết kế hệ thống mạng máy tính là việc thu thập và chuyển tiếp thông tin một cách nhanh chóng, khắc phục những trở ngại về thời gian và địa điểm. Do đó, các dịch vụ trên Internet đã liên tiếp ra đời và phát triển không ngừng. Các dịch vụ hỗ trợ ngƣời dùng trên mạng giờ đây đã trở thành một phần quan trọng không thể thiếu khi tìm hiểu, khai thác và phát triển Internet.

Hiện nay, trên Internet tồn tại một số dịch vụ điển hình nhƣ thƣ điện tử, truyền file (FTP-File Transfer Protocol), dịch vụ đăng nhập từ xa (Telnet), dịch vụ Web (WWW-World Wide Web),. Hầu hết các dịch vụ trên Internet đều hoạt động theo mô hình khách chủ. Thƣ điện tử là một ứng dụng phân tán đƣợc dùng để gửi một thông điệp từ một máy tính đến một hoặc nhiều hơn một máy tính khác. Dịch vụ này cho phép ngƣời dùng có thể gửi và nhận thƣ tín trên Internet.

Mọi ngƣời dùng Internet ở bất kỳ nơi nào trên thế giới đều có thể trao đổi thông tin cho nhau dƣới dạng văn bản một cách nhanh chóng và rẻ tiền. Đây là dịch vụ cơ bản và phổ thông nhất trên Internet. Dịch vụ này còn cho phép gắn kèm cả các thông tin Multimedia, các tập tin, bảng tính vào thƣ và gửi đi. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com FTP là một dịch vụ truyền tập tin đƣợc xây dựng trong thời kỳ đầu phát triển Internet nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của hệ thống mạng máy tính nhƣ truyền và nhận tập tin từ máy tính này sang máy tính khác.

Dịch vụ này cho phép tìm kiếm, sao chép và tải xuống các tập tin sẵn có trên mạng về máy tính của ngƣời dùng. Dịch vụ Web là dịch vụ đƣợc sử dụng đơn giản và hiệu quả nhất trên Internet. Đây là một ứng dụng phân tán đƣợc dùng để duyệt thông tin trên mạng, ra đời trong thời kỳ sau của Internet. Nguyên tắc hoạt động của nó là trình bày các thông tin trên máy chủ thành các trang Web trên màn hình máy tính của ngƣời dùng.

Các trang Web là các siêu văn bản, trong đó có thể bao gồm thuần văn bản, hình ảnh, đa phƣơng tiện (multimedia). và các liên kết tham chiếu đến trang Web khác tại bất kỳ vị trí nào trên Internet, xác định bởi một kiểu địa chỉ độc lập gọi là URL. Ngƣời dùng đọc các siêu văn bản bằng trình duyệt Web có thể thông qua các liên kết mà lựa chọn chủ đề tham khảo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ