Tổng quan nghiên cứu

Tính đến cuối năm 2007, toàn quốc có khoảng 32 tổ chức phát hành thẻ với 4.300 máy ATM và 23.000 điểm chấp nhận thanh toán (POS), cung ứng cho thị trường hơn 8,5 triệu thẻ nội địa và 622.500 thẻ quốc tế. Mặc dù số lượng phương tiện phát hành tăng nhanh, mức chi tiêu của người dân qua thẻ Visa tại Việt Nam chỉ đạt khoảng 0,13% tổng mức chi tiêu, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 7% của Malaysia hay 5% của Philippines. Tại thành phố Cần Thơ, trung tâm kinh tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long với dân số năm 2007 ước đạt 1.067.067 người và tốc độ tăng trưởng GDP đạt 16,27%, phương thức thanh toán tiền mặt vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối. Thống kê ngân hàng năm 2007 tại địa bàn ghi nhận tổng thu tiền mặt qua quỹ đạt 68.700 tỷ đồng và tổng chi tiền mặt lên tới 71.400 tỷ đồng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự mất cân đối rõ rệt giữa tốc độ phát hành thẻ với doanh số chi tiêu thực tế tại các điểm chấp nhận thanh toán, cùng sự phân bổ hạ tầng kỹ thuật chưa đồng đều. Mục tiêu cụ thể của luận văn là khảo sát thực trạng phát hành và sử dụng thẻ tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn Cần Thơ, phân tích những nhân tố cản trở thói quen thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó kiến nghị các giải pháp thiết thực nhằm mở rộng thị trường thẻ. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế thành phố Cần Thơ với chuỗi số liệu từ năm 2005 đến năm 2007. Ý nghĩa của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống thanh toán điện tử, hỗ trợ tối ưu hóa dòng vốn lưu thông và tiết giảm chi phí xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng Thuyết phổ biến đổi mới của Rogers (1983) nhằm phân tích quá trình hình thành ý định và quyết định chấp nhận công nghệ tài chính của người tiêu dùng, dưới sự tác động đồng thời của môi trường xã hội và hành vi cá nhân. Đồng thời, tác giả kế thừa mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tài chính cá nhân của Danes và Hira (1990), Canner và Luckett (1992), cùng quan điểm của Amstrong và Craven (1993) về tầm quan trọng của hành lang pháp lý và hạ tầng công nghệ.

Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm: Thẻ tín dụng (Credit Card) cấp trước hạn mức chi tiêu; Thẻ ghi nợ (Debit Card) khấu trừ trực tiếp vào số dư tiền gửi; Máy rút tiền tự động (ATM); Thiết bị thanh toán tại điểm bán (POS); cùng hai quy trình cốt lõi là Cấp phép ủy quyền (Authorization) và Quyết toán bù trừ (Clearing and Settlement). Khung phân tích xác định 6 nhân tố chính chi phối hành vi sử dụng thẻ gồm: thu nhập, khuôn khổ pháp lý, hạ tầng kỹ thuật, nhận thức người dùng, thói quen chi tiêu tiền mặt và chính sách tiếp thị của ngân hàng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Cục Thống kê TP. Cần Thơ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam và báo cáo kết quả hoạt động giai đoạn 2005 - 2007 của hai đơn vị điển hình: Ngân hàng TMCP Ngoại Thương (Vietcombank) và Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu (Eximbank) Chi nhánh Cần Thơ.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp với cỡ mẫu gồm 80 khách hàng đang sử dụng dịch vụ thẻ tại Cần Thơ. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện có phân tầng theo độ tuổi (tập trung nhóm 18 - 45 tuổi) và phân khúc thu nhập. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp so sánh chuỗi thời gian 3 năm là nhằm làm rõ xu hướng biến động của khối lượng phát hành, doanh số thanh toán và cơ cấu phí dịch vụ. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý số liệu được tiến hành trong mốc thời gian từ năm 2007 đến đầu năm 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, số lượng thẻ phát hành tăng trưởng mạnh nhưng cơ cấu có sự phân hóa lớn giữa thẻ nội địa và thẻ quốc tế. Trong giai đoạn 2005 - 2007, Vietcombank Cần Thơ đã phát hành tổng cộng 70.198 thẻ. Thẻ nội địa năm 2006 đạt 27.387 thẻ (tăng 23,64% so với năm 2005), trong khi thẻ quốc tế chỉ đạt 287 thẻ, chiếm chưa đầy 1,1% tổng lượng phát hành. Đến năm 2007, số lượng phát hành gồm 19.840 thẻ nội địa và 404 thẻ quốc tế.

Thứ hai, doanh số thanh toán ghi nhận bước tiến nhảy vọt qua từng năm. Tại Vietcombank Cần Thơ, doanh số thanh toán thẻ tăng từ 558.515 triệu đồng năm 2005 lên 907.650 triệu đồng năm 2006 (tăng 62,5%) và đạt 1.224.791 triệu đồng vào năm 2007. Trong đó, doanh số thanh toán từ thẻ nội địa năm 2007 chiếm tới 1.210.748 triệu đồng (tương đương 98,85% tổng doanh số).

Thứ ba, khối ngân hàng thương mại cổ phần đối mặt với sự sụt giảm phát hành và áp lực cạnh tranh phí. Tại Eximbank Cần Thơ, tổng số thẻ phát hành năm 2007 giảm 28,75% xuống còn 3.074 thẻ. Doanh số thanh toán thẻ quốc tế giảm từ 791 ngàn USD năm 2006 xuống 427 ngàn USD năm 2007 (giảm 46,01%), buộc đơn vị phải hạ phí dịch vụ thu từ điểm bán từ 2,75% xuống còn 2,2%.

Thứ tư, dữ liệu khảo sát 80 khách hàng chỉ ra rằng nhóm người dùng từ 18 đến 45 tuổi chiếm hơn 75% mẫu điều tra, tập trung ở mức thu nhập trên 3 triệu đồng/tháng. Tuy vậy, hơn 80% giao dịch phát sinh vẫn chỉ dừng lại ở việc rút tiền mặt tại cây ATM.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của việc thẻ chưa phát huy hết chức năng thanh toán trực tiếp là do mạng lưới POS tại Cần Thơ còn mỏng và thiếu tính liên thông giữa các ngân hàng. Ngoài ra, thói quen dùng tiền mặt đã ăn sâu vào nếp sống của cư dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm tới 69% GDP địa phương. So với các nước phát triển như Nhật Bản (234 triệu thẻ trên 127 triệu dân) hay Singapore (trung bình 3 thẻ tín dụng/người), thị trường Cần Thơ vẫn còn dư địa khai thác rất lớn.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua Biểu đồ 2.1 phản ánh cơ cấu GDP Cần Thơ (ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất 47,98% với giá trị 5.539,92 tỷ đồng, công nghiệp xây dựng chiếm 36,53%, nông nghiệp chiếm 15,54%), Biểu đồ 2.5 thể hiện sự chênh lệch giữa thẻ nội địa và thẻ quốc tế, cùng Bảng 2.4 và 2.5 phân tích tỷ lệ thu phí dịch vụ thẻ quốc tế của Eximbank ổn định ở mức 5,56% đến 6,08% trên doanh số.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, mở rộng và chuẩn hóa hạ tầng chấp nhận thẻ. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Cần Thơ cần phối hợp cùng các ngân hàng thương mại trên địa bàn lắp đặt bổ sung 200 máy POS và 50 máy ATM hiện đại trong giai đoạn 2008 - 2010. Nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thành liên thông 100% mạng lưới giữa các liên minh Banknetvn, Smartlink và VNBC, ưu tiên bố trí thiết bị tại các siêu thị lớn như Co.opMart, Metro Cash & Carry, sân bay và trung tâm thương mại.

Thứ hai, tăng cường tiếp thị và mở rộng đối tượng trả lương qua tài khoản. Các ngân hàng thương mại cần chủ động liên kết với hơn 740 doanh nghiệp thương mại và cơ quan hành chính tại địa phương để ký hợp đồng chi trả lương qua thẻ. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ người lao động trong độ tuổi 18 - 45 sở hữu thẻ lên mức 40% vào cuối năm 2010 thông qua chính sách miễn phí mở thẻ và hoàn tiền giao dịch.

Thứ ba, linh hoạt hóa điều kiện phát hành thẻ tín dụng quốc tế. Các ngân hàng phát hành cần đơn giản hóa thủ tục chứng minh tài chính cho khách hàng cá nhân có mức thu nhập từ 3 triệu đồng/tháng trở lên, triển khai các dòng thẻ chuẩn với hạn mức từ 5 đến 20 triệu đồng trong vòng 12 tháng tới.

Thứ tư, siết chặt an ninh mạng và nâng cao nghiệp vụ phòng chống gian lận. Ngân hàng cần tổ chức định kỳ mỗi quý một khóa tập huấn nhận biết thẻ giả cho 100% nhân viên thu ngân tại các điểm chấp nhận thẻ trong giai đoạn 2008 - 2009, đồng thời thiết lập hệ thống giám sát tự động để duy trì tỷ lệ rủi ro tổn thất dưới mức 0,05% tổng doanh số thanh toán.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, ban điều hành và chuyên viên phát triển sản phẩm thẻ tại các ngân hàng thương mại: Khai thác bức tranh cạnh tranh, cơ cấu phí dịch vụ thực tế (5,56% - 6,08%) và các nguyên nhân dẫn đến sụt giảm doanh số để thiết kế sản phẩm thẻ tối ưu.

Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Cần Thơ: Sử dụng dữ liệu chu chuyển tiền mặt (thu 68.700 tỷ đồng, chi 71.400 tỷ đồng năm 2007) để xây dựng chính sách thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và hoàn thiện quy chế an toàn thanh toán điện tử.

Thứ ba, doanh nghiệp bán lẻ, nhà hàng, khách sạn và đơn vị lữ hành: Nắm bắt nhu cầu thanh toán của hơn 46.980 lượt khách du lịch đến Cần Thơ mỗi năm, từ đó chủ động lắp đặt hệ thống POS nhằm tối ưu hóa chi phí quản lý thu ngân.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo giá trị về mô hình nghiên cứu hành vi khách hàng, phương pháp xử lý 80 mẫu khảo sát thực chứng và phân tích số liệu chuỗi thời gian ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao thẻ nội địa chiếm tỷ trọng vượt trội so với thẻ quốc tế tại Cần Thơ giai đoạn 2005 - 2007? Thẻ nội địa chiếm trên 98% tổng lượng phát hành tại Vietcombank Cần Thơ (đạt 19.840 thẻ nội địa so với 404 thẻ quốc tế năm 2007) do thủ tục mở thẻ đơn giản, kết nối trực tiếp với tài khoản nhận lương và không mất phí thanh toán nội địa. Ngược lại, thẻ quốc tế chịu phí cao và quy trình thẩm định phức tạp.

Nguyên nhân nào giúp doanh số thanh toán thẻ Vietcombank Cần Thơ vượt mốc 1.224 tỷ đồng năm 2007? Doanh số thanh toán tăng trưởng mạnh từ mức 558.515 triệu đồng năm 2005 lên 1.224.791 triệu đồng năm 2007 nhờ Vietcombank sở hữu mạng lưới 890 máy ATM dẫn đầu cả nước, đồng thời mở rộng hợp đồng chi trả lương qua tài khoản cho nhiều doanh nghiệp tại khu công nghiệp Trà Nóc và Hưng Phú.

Khảo sát 80 khách hàng tại Cần Thơ phản ánh điểm nổi bật nào về thói quen dùng thẻ? Kết quả khảo sát chỉ ra rằng hơn 75% người sử dụng thẻ nằm trong độ tuổi năng động từ 18 đến 45 tuổi với mức thu nhập từ 2 đến 5 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, hơn 80% người được hỏi chỉ dùng thẻ để rút tiền mặt tại máy ATM thay vì thanh toán tiền hàng tại điểm bán.

Khối ngân hàng thương mại cổ phần như Eximbank gặp khó khăn gì trong mảng thẻ giai đoạn này? Eximbank Cần Thơ ghi nhận lượng thẻ phát hành năm 2007 giảm 28,75% và doanh số thẻ quốc tế giảm 46,01% xuống 427 ngàn USD. Thách thức lớn nhất là áp lực cạnh tranh từ các ngân hàng quốc doanh lớn, khiến chi nhánh phải giảm phí thu từ điểm bán xuống mức 2,2% để giữ khách hàng.

Đâu là rủi ro nghiêm trọng nhất trong hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại địa phương? Rủi ro nguy hiểm nhất là nạn sử dụng thẻ giả từ các đối tượng gian lận lợi dụng sự thiếu kinh nghiệm của nhân viên thu ngân tại điểm POS. Ngoài ra, việc khách hàng cố tình cung cấp hồ sơ sai lệch để chi tiêu vượt hạn mức tín dụng cũng gây thất thoát vốn trực tiếp cho ngân hàng phát hành.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về thẻ thanh toán, các chủ thể tham gia và quy trình quản trị rủi ro giao dịch.
  • Phản ánh trung thực thực trạng thị trường thẻ Cần Thơ giai đoạn 2005 - 2007 qua số liệu thực chứng của Vietcombank, Eximbank và khảo sát 80 khách hàng.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn của việc phát triển thẻ khi chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng vẫn ở mức rất cao 71.400 tỷ đồng trong năm 2007.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi về hạ tầng POS/ATM, chính sách tiếp thị trả lương và kiểm soát gian lận đến năm 2010.
  • Định hướng cho các tổ chức tín dụng đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi sang công nghệ thẻ chip thông minh và mở rộng liên minh thanh toán điện tử.

Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhà hoạch định chính sách, ngân hàng thương mại và giới học thuật trong quá trình phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.