Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THẺ NGÂN HÀNG.1 Tổng quan về thẻ ngân hàng. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, một trong 10 sự kiên nổi bật nhất của Ngành ngân hàng là sự tăng trưởng vượt trội với tốc độ 300% của thị trường thẻ trong năm 2005 so với năm 2004 tính theo doanh số thanh toán và rút tiền mặt bằng thẻ ( Theo thời báo kinh tế Việt Nam). Riêng năm 2007 so với năm 2006, số lượng thẻ nội địa đạt khoảng 150%; số lượng thẻ quốc tế đạt khoảng 200%; máy ATM đạt 154%; máy POS đạt khoảng 200% (Nguồn: Hiệp hội ngân hàng) Tính đến 31/12/2007, hiện đã có tổng số khoảng 32 tổ chức phát hành thẻ với tổng số 4300 máy ATM, 23000 điểm chấp nhận thanh toán (POS). Số lượng thẻ phát hành là 8.500 thẻ nội địa và 622.500 thẻ quốc tế ( Nguồn: Hiệp hội Ngân Hàng ).
Các Ngân hàng hiện đang cạnh tranh dịch vụ thẻ bằng phí dịch vụ nhưng lợi nhuận từ thẻ lại không phải từ tiền phí. Ngân hàng nào cũng muốn phát triển dịch vụ thẻ bởi thẻ đem lại nguồn tiền nhàn rỗi khổng lồ.Theo danh sách, 10 ngân hàng thương mại có số lượng máy ATM lớn nhất trên toàn quốc. Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) đứng đầu với 890 máy. Tiếp đến là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV): 682 máy; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank): 621 máy; Ngân hàng Công thương (Incombank): 492 máy; Ngân hàng Đông Á (DongA Bank): 595 máy; Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank): 178 máy; Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank): 156 máy; Ngân hàng Các doanh nghiệp Ngoài quốc doanh (VPBank): 118 máy; Ngân hàng Á Châu (ACB): 102 máy; Ngân hàng Quân đội (MB): 90 máy (Nguồn: Hiệp hội ngân hàng) Theo thống kê sơ bộ thị trường thẻ Việt Nam với số lượng 8.000 thẻ đã được phát hành cho một thị trường với hơn 80 triệu dân thì quả là con số khiêm tốn nhưng mới chỉ có khoảng gần 623 ngàn thẻ tín dụng (Visa, Mastercard).
Nếu so sánh với các nước trong khu vực là Philippines (trên 10 triệu thẻ), Thái Lan (trên 1,6 triệu thẻ), hay ở những nước phát triển tại châu Á như: ở Singapore người ta ước tính trung bình mỗi người dân sử dụng đến 3 thẻ tín dụng, hay ở Nhật Bản có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 234 triệu thẻ đã phát hành cho 127 triệu dân. “Rõ ràng tiềm năng của thị trường Việt Nam là rất lớn và thị trường công nghệ thẻ thanh toán sẽ phát triển và cạnh tranh rất mạnh mẽ trong vòng 5 năm tới”, Ông Kevin Francis Wong, giám đốc điều hành Open Way khu vực Châu Á đã nhận định. Ngoài ra, Giám đốc tập đoàn Visa khu vực Đông Dương Gordon Cooper cho biết, theo kết quả nghiên cứu về thị trường thẻ Việt Nam, con số chi tiêu của người Việt Nam qua thẻ Visa chỉ đạt 0,13% tổng chi tiêu, trong khi tỷ lệ này ở Malaysia là 7% và Philipines là 5%. “Điều này cho thấy, thị trường thanh toán bằng thẻ của Việt Nam vẫn còn bỏ ngỏ.
Các Ngân hàng ở Việt Nam vì nhiều lý do đang khai thác thị trường thẻ một cách lẻ tẻ, manh mún và thiếu hợp tác”, Gordon nhấn mạnh. Hiện nay, Visa đã thoả thuận với 7 Ngân hàng thương mại phát hành thẻ ghi nợ mang thương hiệu Visa Debit. Với Visa Debit, chi cần có tiền trong tài khoản, khách hàng có thể sử dụng khắp nơi trên thế giới. Hiện thẻ này có thể thanh toán trực tiếp tại hơn 6000 điểm thanh toán tại Việt Nam và 20 triệu điểm trên khắp thế giới.
Người Việt Nam thích sử dụng thẻ ghi nợ (Debit Card) hơn thẻ tín dụng (Credit Card). Đây là một phát hiện thú vị của Visa. Tổ chức thẻ quốc tế này sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc phát hành loại thẻ ghi nợ này ở thị trường nước ta. Bên cạnh đó, các Ngân hàng khác đang tích cực đầu tư cơ sở hạ tầng cho việc phát hành thẻ của mình.
Điều này cho thấy các Ngân hàng Việt Nam đã nhận thức được tiềm năng to lớn của thị trường này trong tương lai. Dự báo xu hướng phát triển thẻ trong thời gian tới vẫn tiếp tục phát triển mạnh với tốc độ khoảng 200%-300%, mạng lưới ATM và POS sẽ được mở rộng, nhiều loại thẻ mới xuất hiện trên thị trường và dịch vụ khách hàng liên quan đến thẻ cũng sẽ được chú trọng hơn.2 Lịch sử ra đời và phát triển của thẻ thanh toán. Ngành công nghiệp thẻ ngân hàng tuy mới được phát triển thật sự trong 25 năm gần đây. Nhưng thẻ có một lịch sử lâu đời bắt nguồn từ việc các đại lý bán lẻ cung cấp tín dụng cho khách hàng (mua hàng trước, trả tiền sau).
Nhiều đại lý nhỏ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 không đủ khả năng cung cấp tín dụng cho các khách hàng của họ và điều này tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vào cuộc. Năm 1946, thẻ ngân hàng John Biggins có tên là Charg-It xuất hiện tại Mỹ, đó là một hệ thống tín dụng cho phép các khách hàng thực hiện các giao dịch nội địa tại các đại lý bằng các “phiếu” có giá trị do ngân hàng phát hành. Các đại lý nộp các “phiếu” giao dịch cho ngân hàng Biggins; ngân hàng sẽ thanh toán các giao dịch đó cho các đại lý và thu tiền lại từ các khách hàng. Đó là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng đầu tiên của ngân hàng Franklin National New York vào năm 1951.
1960, Ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ ngân hàng riêng của mình, BankAmericard. Việc phát triển mạng lưới đại lý và chủ thẻ ngày càng mở rộng trên toàn bộ nước Mỹ. Vào năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành tổ chức Interbank (Interbank Card Association-ICA), một tổ chức mới có khả năng trao đổi thông tin các giao dịch thẻ tín dụng. Vào năm 1967, bốn ngân hàng California đổi tên từ California Bankcard Association thành Western States BankCard Association (WSBA).
WSBA mở rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía tây nước Mỹ. Sản phẩm thẻ của tổ chức WSBA là MasterCharge. Vào cuối thập niên 1960, nhiều tổ chức tài chính đã trở thành thành viên của MasterCharge và đủ sức cạnh tranh với BankAmericard. Vào năm 1968, Interbank mở rộng thành viên ra khỏi phạm vi nước Mỹ, liên kết với các tổ chức tài chính châu Âu hình thành thẻ Eurocard.
Thành viên đầu tiên của Nhật tham gia vào tổ chức Interbank vào năm 1968. Năm 1977, BankAmericard trở thành Visa International (có trên 1,2 tỷ chủ thẻ). Năm 1979, MasterCharge đổi tên thành MasterCard (hiện nay có khoảng trên 500 triệu chủ thẻ). Sau đó, ngày càng có nhiều các tổ chức tài chính của các nước tham gia vào chương trình thẻ ngân hàng.
Ngoài ra, có các sản phẩm thẻ khác với thị phần ít hơn cũng được hình thành như American Express vào năm 1958, Diners Club vào năm 1950, JCB vào năm 1961. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ngày nay, hai thương hiệu thẻ tín dụng quốc tế là Visa và Mastercard được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới và đã chiếm lĩnh gần như hoàn toàn thị trường thẻ Ngân hàng trên thế giới, trong đó bao gồm cả số lượng thẻ phát hành và doanh số thanh toán thẻ Thị trường thẻ tại Việt Nam từ đầu thập niên 90 hoạt động kinh doanh thẻ thanh toán đã xuất hiện tại Việt Nam nhưng các ngân hàng cũng chủ yếu là hợp tác với các ngân hàng nước ngoài để thưc hiện việc phát hành và đại lý thanh toán thẻ tín dụng quốc tế như VISA, Master, AMEX, … Cho đến năm 1996, Hiệp hội thẻ Việt Nam được thành lập và cho đến nay đã có 32 ngân hàng thành viên phát hành, thanh toán thẻ trên phạm vi toàn quốc.3 Mô tả và phân loại thẻ thanh toán.1 Khái niệm thẻ thanh toán. Đối với thẻ thanh toán có nhiều khái niệm để diễn đạt nó, mỗi một cách diễn đạt nhằm làm nổi bật một nội dung. Sau đây là một số khái niệm về thẻ thanh toán: - Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động.
- Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi Ngân hàng, các Tổ chức tài chính hay các công ty. - Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ. - Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán.
Tóm lại: các cách diễn đạt trên đều phản ánh lên đây là một phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Mô tả thẻ về mặt kỹ thuật. Thẻ là một miếng plastic có kích thước tiêu chuẩn và có một dải băng từ ở mặt sau ghi thông tin về thẻ và chủ của thẻ, cũng có thể có chip điện tử để ghi các thông tin phụ thêm khác. Thẻ thường do các ngân hàng phát hành cho khách hàng của mình để phục vụ cho việc thanh toán.
Hầu hết các loại thẻ thanh toán hiện nay đều được làm bằng nhựa ABS hoặc PC, cấu tạo với 03 lớp được ép với kỹ thuật cao, thẻ có kích thước 84mm x 54mm x 0,76mm có góc tròn gồm hai mặt: * Mặt trước của thẻ bao gồm các yếu tố cơ bản sau: - Tên và biểu tượng của Ngân hàng phát hành thẻ: các huy hiệu, logo của tổ chức phát hành thẻ, tên thẻ, tên và biểu tượng của Ngân hàng trực tiếp phát hành thẻ. - Số thẻ là số tài khoản dành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi lên trên thẻ và sẽ được in trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán tiền mua hàng - Họ và tên chủ thẻ: được dập chữ nổi, thẻ thanh toán không được chuyển đổi cho nhau. - Thời gian hiệu lực của thẻ: khoảng thời gian sử dụng thẻ. Thời gian sử dụng tuỳ theo chính sách của từng Ngân hàng.