Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng than sinh học từ phụ phẩm cây lúa để cải tạo môi trường đất xám bạc màu

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng than sinh học từ phụ phẩm cây lúa nhằm cải tạo môi trường đất xám bạc màu, nâng cao chất lượng đất.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2015

156
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tình hình sử dụng phụ phẩm cây lúa

1.2. Tình hình sử dụng phụ phẩm cây lúa trên thế giới

1.3. Tình hình thu gom và sử dụng phụ phẩm cây lúa ở Việt Nam

1.4. Ảnh hưởng của một số hình thức xử lý phụ phẩm cây lúa đến môi trường đất và chu trình các bon

1.5. Đất xám bạc màu

1.5.1. Sự phân bố, phân loại đất xám bạc màu

1.5.2. Tính chất đất xám bạc màu

1.6. Kim loại nặng trong đất xám bạc màu

1.7. Các biện pháp cải tạo đất xám bạc màu

1.8. Ô nhiễm kim loại nặng và các biện pháp xử lý

1.8.1. Nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng trong đất

1.8.2. Các dạng kim loại nặng trong đất

1.8.3. Sự tồn tại và chuyển hóa Cu, Pb và Zn trong đất

1.8.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính linh động của kim loại nặng trong môi trường đất

1.8.5. Mối quan hệ giữa kim loại nặng trong môi trường đất và nước

1.8.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hút thu kim loại nặng của thực vật

1.8.7. Một số phương pháp xử lý đất ô nhiễm KLN

1.8.8. Các phương pháp xử lý kim loại nặng trong nước

1.9. Tổng quan về sản xuất và ứng dụng than sinh học

1.9.1. Đặc tính của TSH

1.9.2. Than sinh học cô lập các bon trong đất và giảm phát thải khí nhà kính

1.9.3. Than sinh học cải tạo đất và nâng cao năng suất cây trồng

1.9.4. Than sinh học xử lý môi trường đất ô nhiễm

1.9.5. Tải lượng than sinh học của đất và các tác động bất lợi

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp điều tra và thu thập tài liệu

2.2.2. Phương pháp lấy mẫu và xử lý mẫu

2.2.3. Phương pháp bố trí thí nghiệm và các chỉ tiêu theo dõi

2.2.4. Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích

2.2.5. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tính chất lý hóa của đất bạc màu và TSH

3.1.1. Tính chất lý hóa của vật liệu phối trộn sau 4 tuần ủ

3.1.2. Mối quan hệ giữa điện tích bề mặt và pH của đất sau khi bổ sung TSH

3.2. Khả năng xử lý Cu, Pb và Zn của TSH

3.2.1. Khả năng đệm pH của TSH

3.2.2. Khả năng xử lý Cu của TSH

3.2.3. Khả năng xử lý Pb của TSH

3.2.4. Khả năng xử lý Zn của TSH

3.2.5. Khả năng xử lý Cu, Pb và Zn của đất sau khi bổ sung TSH

3.2.6. Khả năng xử lý Cu của đất sau khi bổ sung TSH

3.2.7. Khả năng xử lý Pb của đất sau khi bổ sung TSH

3.2.8. Khả năng xử lý Zn của đất sau khi bổ sung TSH

3.3. Khả năng cố định Cu, Pb và Zn trong môi trường đất

3.3.1. Khả năng cố định KLN của TSH dưới tác động của dịch chiết CaCl2 0,01 M

3.4. Ảnh hưởng của TSH đến các chỉ tiêu sinh trưởng và sự tích lũy KLN của cây rau muống

3.5. Ảnh hưởng của TSH đến năng suất và một số tính chất đất bạc màu trồng lúa

3.5.1. Ảnh hưởng của than sinh học đến năng suất lúa

3.5.2. Ảnh hưởng của than sinh học đến tính chất đất

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về ứng dụng than sinh học trong cải tạo đất xám bạc màu

Than sinh học (TSH) đã trở thành một giải pháp tiềm năng trong việc cải tạo đất xám bạc màu, một loại đất thường gặp ở nhiều vùng nông nghiệp Việt Nam. Đất xám bạc màu thường có tính chất chua, nghèo dinh dưỡng và dễ bị xói mòn. Việc ứng dụng TSH không chỉ giúp cải thiện tính chất đất mà còn nâng cao năng suất cây trồng. Nghiên cứu cho thấy TSH có khả năng giữ ẩm, cải thiện cấu trúc đất và tăng cường khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cây trồng.

1.1. Đặc điểm của đất xám bạc màu và thách thức trong nông nghiệp

Đất xám bạc màu thường có độ pH thấp, chứa ít chất hữu cơ và dễ bị rửa trôi dinh dưỡng. Những đặc điểm này gây khó khăn cho việc canh tác và làm giảm năng suất cây trồng. Việc cải tạo đất xám bạc màu là một thách thức lớn đối với nông dân, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

1.2. Vai trò của than sinh học trong cải tạo đất

Than sinh học được sản xuất từ phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, có khả năng cải thiện tính chất lý hóa của đất. Nghiên cứu cho thấy TSH giúp tăng cường độ phì nhiêu của đất, giảm thiểu ô nhiễm kim loại nặng và cải thiện khả năng giữ nước của đất.

II. Vấn đề ô nhiễm đất xám bạc màu và tác động của kim loại nặng

Ô nhiễm đất xám bạc màu do kim loại nặng là một vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và chất lượng nông sản. Kim loại nặng như Cu, Pb, Zn thường tích tụ trong đất do việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Việc này không chỉ làm giảm năng suất cây trồng mà còn gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường.

2.1. Nguồn gốc và tác động của kim loại nặng trong đất

Kim loại nặng có thể xâm nhập vào đất từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt. Sự tích tụ của chúng trong đất có thể gây ra ô nhiễm nguồn nước và ảnh hưởng đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thực phẩm.

2.2. Các biện pháp xử lý ô nhiễm kim loại nặng

Có nhiều phương pháp để xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất, bao gồm biện pháp hóa học, sinh học và vật lý. Tuy nhiên, việc sử dụng than sinh học đã cho thấy hiệu quả cao trong việc cố định kim loại nặng và cải thiện chất lượng đất.

III. Phương pháp ứng dụng than sinh học trong cải tạo đất

Việc ứng dụng than sinh học trong cải tạo đất xám bạc màu có thể thực hiện qua nhiều phương pháp khác nhau. TSH có thể được trộn vào đất hoặc sử dụng như một lớp phủ. Nghiên cứu cho thấy việc bổ sung TSH vào đất không chỉ cải thiện tính chất đất mà còn giúp tăng cường khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cây trồng.

3.1. Quy trình sản xuất và ứng dụng than sinh học

Quy trình sản xuất TSH từ phụ phẩm cây lúa đơn giản và dễ thực hiện. Người nông dân có thể tự sản xuất TSH tại nhà, giúp giảm thiểu chi phí và tăng cường tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp.

3.2. Tác động của than sinh học đến năng suất cây trồng

Nghiên cứu cho thấy việc bổ sung TSH vào đất giúp tăng năng suất cây trồng đáng kể. Cây trồng phát triển mạnh mẽ hơn, khả năng hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn và giảm thiểu sự tích tụ kim loại nặng trong nông sản.

IV. Kết quả nghiên cứu ứng dụng than sinh học trong cải tạo đất

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc ứng dụng than sinh học từ phụ phẩm cây lúa có thể cải thiện đáng kể tính chất lý hóa của đất xám bạc màu. Kết quả cho thấy TSH giúp tăng cường độ pH, khả năng giữ nước và độ phì nhiêu của đất. Ngoài ra, TSH còn giúp giảm thiểu ô nhiễm kim loại nặng trong đất.

4.1. Đánh giá hiệu quả cải tạo đất sau khi bổ sung TSH

Các thí nghiệm cho thấy đất được bổ sung TSH có độ phì nhiêu cao hơn, khả năng giữ nước tốt hơn và giảm thiểu ô nhiễm kim loại nặng. Điều này cho thấy TSH là một giải pháp hiệu quả trong cải tạo đất xám bạc màu.

4.2. Ứng dụng thực tiễn của than sinh học trong nông nghiệp

Việc ứng dụng TSH trong nông nghiệp không chỉ giúp cải tạo đất mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Nông dân có thể giảm thiểu lượng phụ phẩm dư thừa, đồng thời nâng cao năng suất cây trồng và chất lượng nông sản.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của ứng dụng than sinh học

Ứng dụng than sinh học trong cải tạo đất xám bạc màu là một giải pháp bền vững và hiệu quả. TSH không chỉ giúp cải thiện tính chất đất mà còn góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao năng suất cây trồng. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp ứng dụng TSH để tối ưu hóa hiệu quả trong nông nghiệp.

5.1. Tương lai của nghiên cứu ứng dụng than sinh học

Nghiên cứu về TSH cần được mở rộng để tìm ra các phương pháp ứng dụng hiệu quả hơn. Việc kết hợp TSH với các biện pháp cải tạo đất khác có thể mang lại kết quả tốt hơn trong việc nâng cao năng suất cây trồng.

5.2. Khuyến nghị cho nông dân và nhà nghiên cứu

Nông dân nên áp dụng TSH trong canh tác để cải thiện chất lượng đất và năng suất cây trồng. Các nhà nghiên cứu cần tiếp tục tìm hiểu về tác động của TSH đối với môi trường và sức khỏe con người.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - TỔNG QUAN 1. Tình hình sử dụng phụ phẩm cây lúa 1. Tình hình sử dụng phụ phẩm cây lúa trên thế giới Lúa gạo là thực phẩm quan trọng đối với khoảng một nửa dân số thế giới. Riêng khu vực châu Á đã sản xuất 618,24 triệu tấn, hơn 90% tổng sản lượng gạo toàn cầu (Bảng 1.

Thống kê trong năm 2009 cho thấy, Trung Quốc đã sản xuất 196,7 triệu tấn lúa trên diện tích 29,8 triệu ha, trong khi Ấn Độ đã sản xuất 133,7 triệu tấn lúa trên diện tích 41,9 triệu ha [81]. Mặc dù Trung Quốc và Ấn Độ sản xuất lúa gạo lớn nhất trên thế giới nhưng số lượng xuất khẩu của họ là tương đối thấp do nhu cầu lớn từ dân số của họ. Sản lượng lúa và phụ phẩm cây lúa trên thế giới năm 2009 Khu vực Sản lượng Rơm rạa Trấub (triệu tấn) (triệu tấn) (triệu tấn) Châu Phi 24,51 24,51 4,9 Châu Mỹ 38,1 38,1 7,62 Châu Á 618,24 618,24 123,65 Trung Quốc 196,68 196,68 39,336 Ấn Độ 133,7 133,7 26,74 Indonesia 64,4 64,4 12,88 Bangladesh 47,72 47,72 9,544 Châu Âu 4,1 4,1 0,82 Châu đại dương 0,29 0,29 0,058 Thế giới 685,24 685,24 137,05 Nguồn: [81] a tỉ lệ so với sản lượng là 1 b tỉ lệ so với sản lượng là 0,2 Nhu cầu gạo dự kiến sẽ vẫn mạnh mẽ trong vài thập kỷ tới do sự tăng trưởng kinh tế và dân số ở các nước châu Phi và châu Á [138]. Dự đoán rằng đến năm 2020, tổng lượng tiêu thụ gạo sẽ là 450 triệu tấn, tăng 6,6% so với 422 triệu tấn vào năm 2007 [169].

Nhìn chung, ngành sản 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xuất lúa gạo sẽ vẫn duy trì ổn định trong một thời gian dài, dẫn đến việc phụ phẩm từ cây lúa vẫn ở mức cao (Bảng 1. Việc sử dụng phụ phẩm cây lúa cho các mục đích khác nhau ở các nước cũng khác nhau. Ví dụ như ở Indonesia, phụ phẩm cây lúa chủ yếu được sử dụng cho mục đích năng lượng hoặc đốt bỏ trên đồng ruộng. Ở Philippin chủ yếu sử dụng cho cung cấp năng lượng, sản xuất phân bón hoặc đốt bỏ.

Ở Trung Quốc, phụ phẩm chủ yếu được sử dụng để sản xuất phân bón và làm thức ăn gia súc hoặc đốt bỏ (Bảng 1. Một số hình thức sử dụng rơm rạ và trấu ở các nước trên thế giới Hình thức sử dụng Quốc gia Indonesia , Nepal, Thái Lan, Malaysia, Cung cấp năng lượng Philippin, Thụy Sỹ, Nigeria. Phân bón Philippin, Israel, Trung Quốc. Lebanon, Pakistan, Syria, Iraq, Israel, Thức ăn cho động vật Tanzania, Trung Quốc, châu Mỹ.

Trồng nấm Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ. Đốt cháy Trung Quốc, Mỹ, Philippin, Indonesia. Theo một cuộc khảo sát tại Thái Lan, 90% rơm rạ trong vụ thu hoạch cao điểm giữa tháng mười một và tháng mười hai được xử lý bằng cách đốt cháy trên đồng ruộng [170]. Do việc đốt làm ảnh hưởng đến vấn đề sức khỏe và môi trường, nhiều quốc gia đã áp đặt các quy định mới để hạn chế các hoạt động đốt phụ phẩm trên đồng ruộng [102].

Gần đây, rơm rạ và trấu đã được sử dụng làm vật liệu xây dựng [185], làm vật liệu hấp phụ KLN [114] và sử dụng vào mục đích sản xuất năng lượng và nhiên liệu. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Rơm rạ và trấu giống như nhiều loại sinh khối khác có chứa nhiều xenlulo và có một số đặc tính phù hợp để làm nguyên liệu cho việc chuyển đổi sinh hóa thành nhiên liệu như ethanol [181]. Rơm rạ cũng có tiềm năng sử dụng như một nguồn sinh khối để sản xuất năng lượng, nhưng việc ứng dụng với quy mô lớn của nó khá hạn chế so với việc sử dụng trấu [48]. Việc sử dụng trấu để sản xuất điện đã được áp dụng phổ biến ở những khu vực do có nguồn cung dồi dào từ các nhà máy xay xát lúa.

Ngược lại, việc thu gom rơm rạ là khó khăn hơn do các vấn đề liên quan đến vận chuyển, xử lý và thu gom từ đồng ruộng [69]. Tình hình thu gom và sử dụng phụ phẩm cây lúa ở Việt Nam Các hình thức thu gom, sử dụng và xử lý các phụ phẩm cây lúa chủ yếu là rơm rạ, là khá đa dạng và không thống nhất. Tùy theo điều kiện từng vùng và tập quán sử dụng của từng địa phương mà hình thức thu gom, sử dụng và xử lý rơm rạ sau thu hoạch cũng rất khác nhau. Với sản lượng lúa ước tính năm 2013 của cả nước trên 40 triệu tấn [24], nếu tính tỉ lệ thu hoạch là 1,0 và tỉ lệ giữa khối lượng trấu trên khối lượng hạt là 0,2 thì cả nước có trên 40 triệu tấn rơm rạ và trên 8 triệu tấn trấu.

Đây là một nguồn nguyên nhiên liệu rất lớn. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp ở nước ta có quy mô nhỏ, việc thu gom và sử dụng rơm rạ đều bằng các hình thức thủ công. Rơm rạ thường được dự trữ ngoài trời nên phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, chưa khai thác được hết lợi ích từ lượng rơm đã dự trữ. Theo kết quả điều tra trong năm 2015 cho thấy, việc sử dụng rơm ra ngày nay vẫn còn nhiêu mục đích khác nhau.

Tuy nhiên đa số rơm rạ được để lại tại ruộng sau đó đốt bỏ: 42,2%, hoặc vùi lại: 16,2%, làm thức ăn cho đại gia súc: 18%, Ủ làm phân: 5,5%, chất độn chuồng nuôi: 5,6%, tủ gốc: 4,7%, ngoài ra còn sử dụng làm nấm, chất đốt nhưng không đáng kể (Bảng 1. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một số tỉnh vùng ĐBSCL rơm đã được thu gom, đóng bánh bằng cơ giới và bán cho thương lái. Tỷ lệ các hình thức sử dụng rơm rạ tại một số tỉnh ở Việt Nam, (%) Thức Chất Làm Đốt tại Vùi tại Làm Tủ Địa phương Ủ phân ăn gia độn chất Bán ruộng ruộng Nấm gốc súc chuồng đốt Sơn La 75,5 5,0 4,5 10,0 5,0 - - - Lào Cai 70,0 10,0 2,0 3,0 5,5 - 9,5 - - Phú Thọ 60,0 20,0 1,0 6,0 - - 13,0 - - Bắc Giang 30,3 25,0 11,7 23,0 - 5,0 - 5,0 - Nam Định 26,0 30,0 15,0 14,0 5,0 - 5,0 5,0 - Hà Tĩnh 24,0 15,0 40,0 10,0 1,5 2,0 7,5 - Bình Định 15,0 20,0 10,0 35,0 10,0 - 5,0 5,0 - Bến tre 45,0 10,0 30,0 5,0 - 4,0 - 6,0 Tiền giang 32,0 12,0 7,5 6,0 8,5 - 6,0 - 28,0 Sóc Trăng 45,0 15,0 4,0 11,0 7,5 - 2,5 - 15,0 Tỷ lệ % TB 42,2 16,2 5,5 18,0 5,6 0,6 4,7 2,3 4,9 Nguồn: [3] Đối với vỏ trấu nông dân chủ yếu sử dụng làm chất đốt, ở các tỉnh ĐBSCL có nhiều nhà máy xay xát, trấu được gom lại và cung cấp cho các nhà máy sấy, lượng trấu sử dụng làm chất đốt là 60,2%, dùng lót chuồng nuôi: 17,4%, Ủ phân: 14,1% (Bảng 1. Một số tỉnh đã có xưởng sản xuất thanh củi trấu như Bến Tre, Sóc Trăng, Tiền Giang, Nam Định.

Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu sử dụng các chế phẩm sinh học để xử lý rơm rạ rất được quan tâm, khi bổ sung vi sinh vật vào rơm rạ như Arpergillus, Trichoderma, Penicillium, Pseudomonas, Bacillus và Azotobacter, Pleurotus sojarcaju và Trichoderma viride thì rơm rạ phân hủy nhanh hơn. Một trong những thành tựu gần đây của Viện Lúa ĐBSCL là nghiên cứu, tuyển chọn và sản xuất thành công chế phẩm Trichoderma có khả năng xử lý rơm rạ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trực tiếp ngoài đồng với quy mô lớn, giảm chi phí thu gom rơm, vận chuyển và đánh đống ủ. Kết quả bước đầu đã tận dụng được nguồn rơm rạ tại chỗ phục vụ cho sản xuất lúa, góp phần ổn định sự bền vững cho đất lúa thâm canh tăng năng suất, giảm chi phí phân bón hóa học và góp phần gia tăng hiệu quả kinh tế trồng lúa, đáp ứng chiến lược sản xuất nông nghiệp bền vững và bảo vệ tốt môi trường [31]. Tỷ lệ các hình thức sử dụng trấu tại một số tỉnh ở Việt Nam, (%) Than sinh Địa phương Chất đốt Ủ phân Lót chuồng Tủ gốc học Sơn La 50,5 25,0 20,3 - 4,2 Lào Cai 70,0 8,5 15,6 - 5,9 Phú Thọ 74,5 10,5 15,0 - - Bắc Giang 62,0 20,0 12,0 - 6,0 Nam Định 46,4 20,0 25,0 4,6 4,0 Hà Tĩnh 65,3 15,0 9,7 - 10,0 Bình Định 51,0 4,5 44,5 - - Bến tre 55,0 10,0 15,0 15,0 5,0 Tiền giang 60,5 15,0 12,4 10,0 2,1 Sóc Trăng 66,3 12,0 4,7 15,0 2,0 Tỷ lệ % TB 60,2 14,1 17,4 4,5 3,9 Nguồn: [3] Than trấu và củi trấu có thể thay thế nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt là đối với nước nông nghiệp như nước ta.

Vỏ trấu không cháy dễ dàng để thành ngọn lửa trừ khi có không khí thổi qua. Vỏ trấu có khả năng chống ẩm và mục rữa nên nó là vật liệu cách nhiệt tốt. Khi đốt cháy vỏ trấu tạo ra một lượng tro khoảng 17 - 26%, cao hơn rất nhiều so với gỗ 0,2 - 2%, do đó, nó là một nguồn năng lượng tái tạo có giá trị [23]. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phương pháp xử lý rơm rạ bằng phương pháp đốt không thu hồi nhiệt lượng là phương pháp vốn được người nông dân Nam bộ sử dụng từ lâu để tiêu hủy lượng rơm rạ trên đồng ruộng và tro sau quá trình cháy được xem là phân bón.

Theo phân tích của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (2005), % hàm lượng tro trong một số loại chất đốt cho thấy tỷ lệ của vỏ trấu và rơm là cao hơn đáng kể (Bảng 1. Thành phần trong một số chất đốt, (%) Tính chất Vỏ trấu Rơm Gỗ Chất dễ bay hơi 64,7 69,7 85 Các bon 15,7 11,1 13 Tro 19,6 19,2 2 Nguồn: [32] Nghiên cứu cũng cho thấy thành phần một số nguyên tố dinh dưỡng trong rơm rạ như N = 0,5%, P2O5 = 0,2% và K2O = 0,6 - 1,5%, đồng thời một số thành phần của một số loại tro từ các phụ phẩm trồng trọt (rơm rạ, trấu, thân ngô) được phân tích và đánh giá là có lợi cho cây trồng (Bảng 1. Thành phần một số loại tro, (%) % tan % tan STT Loại tro trong trong SiO2 Al2O 3 Fe2O 3 P2O 5 K 2O CaO nước HCl 1 Rạ chiêm 3,2 13,3 86,7 2,04 3,19 0,9 2,0 2,6 2 Rạ mùa 6,8 18,2 81,8 0 3,29 1,2 4,1 3,8 3 Rạ nếp 5,9 11,0 89,0 0,3 1,29 0,6 3,5 1,7 4 Trấu 4,2 4,6 95,4 0 2,39 0,6 2,5 0,8 5 Thân ngô 13,7 36,2 63,8 0 2,09 9,5 8,3 5,2 Nguồn: [32]. Đốt thu hồi nhiệt lượng ở quy mô nhỏ, các chất thải dễ cháy được sử dụng thay thế củi để đun nấu phục vụ sinh hoạt trong gia đình như nấu nướng, 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đun nước, sưởi ấm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ