Chương 1: MÔ TẢ HỆ THỐNG. Giới thiệu chung. Giới thiệu Trường THCS xã Nghĩa Lạc tiền thân là trường phổ thông cấp II xã Nghĩa Lạc được thành lập năm 1967, do thầy Đặng Xuân Noãn làm hiệu trưởng. Trường được thành lập trên nền nhà kho cũ của HTX với lèo tèo hai lớp 5, một lớp 6, với vẻn vẹn gần 100 học sinh, thầy cô giáo là người nơi khác về dạy học.
Thế mà 47 năm sau (năm 2012) trường THCS Nghĩa Lạc đã trưởng thành với cơ sở vật chất khang trang, đầy đủ tại trung tâm xã, đánh dấu sự phấn đấu vươn lên không mệt mỏi của Đảng bộ và nhân dân trong xã. Cơ cấu tổ chức - Ban giám hiệu (1 hiệu trưởng và 2 hiệu phó). - Ban chỉ huy liên đội. - Các tổ chuyên môn.
Mô tả nghiệp vụ. Nhiệm vụ cơ bản: - Quản lý thông tin học sinh. - Quản lý thông tin cơ bản của phụ huynh học sinh. - Quản lý điểm học sinh.
- Quản lý thông tin giáo viên trong trường. - Quản lý các năm học - Quản lý các môn học 2 1. Đối tượng sử dụng - Giáo viên chủ nhiệm: Truy cập vào website xem thông tin và kết quả học tập rèn luyện của học sinh lớp mình chủ nhiêm.Đánh giá hạnh kiểm của học sinh theo từng kì học. - Giáo viên bộ môn: Truy cập vào website xem được thông tin học sinh lớp mình dạy, cho điểm học sinh theo các điểm(điểm 15’, điểm 45’, điểm miệng).
- Giáo vụ: Quản lý thông tin học sinh, phụ huynh, giáo viên trong trường, năm học. - Phụ huynh học sinh: Truy cập vào website xem được thông tin, kết quả học tập của con mình. Phạm vi đề tài Xây dựng một website quản lý thông tin học sinh, phụ huynh, kết quả học tập của học sinh theo lớp học ở từng kì học của năm học. - Quản lý học sinh: + Khi một học sinh mới chuyển từ trường khác tới trường mình quản lý thì giáo vụ có nhiệm vụ thêm học sinh mới đó vào lớp, cập nhập thông tin học sinh, cập nhập kết quả học tập của học sinh đó khi ở trường cũ.Học sinh chuyển từ lớp này sang lớp khác thì cập nhập lại lớp cho học sinh đó, và cập nhập lại sổ học bạ của học sinh.
+ Vào đầu mỗi năm học thì các học sinh mới chuyển vào trường, giáo vụ có nhiệm vụ tạo các lớp học, thêm các học sinh vào lớp.Đối với các học sinh đã tốt nghiệp thì làm nhiệm vụ chuyển trạng thái của học sinh đó về đã tốt nghiệp. 3 + Giáo vụ có thể xem được toàn bộ thông tin các học sinh của trường, thống kê được học sinh theo xếp loại học tập, hạnh kiểm đạo đức.Cập nhập việc chuyển lớp, chuyển trường cho học sinh.Hỗ trợ giáo vụ tìm kiếm thông tin lớp, học sinh, phụ huynh học sinh một các nhanh chóng, tiện lợi. - Quản lý giáo viên: + Quản lý toàn bộ thông tin của các giáo viên trong trường.Giáo viên bộ môn có thể xem được thông tin học sinh của lớp học đang phụ trách, cho điểm học sinh theo các loại điểm khác nhau của môn học mình dạy. +Giáo viên chủ nhiệm quản lý được thông tin tất cả các học sinh trong lớp mình chủ nhiệm.
Quản lý được quả học tập của học sinh đó trong từng môn học ở từng kì, gửi thông báo về cho phụ huynh học sinh nếu kết quả học tập của học sinh đó là quá yếu sau một kì học. - Quản lý phụ huynh học sinh: Quản lý thông tin cụ thể của phụ huynh học sinh.Phụ huynh có thể xem được thông tin học tập của con mình thông qua danh sách các môn học theo kì và điểm mà con mình đạt được trên lớp thông qua các bài kiểm tra. Quy trình xử lý. - Vào đầu mỗi năm học, thì học sinh lớp 9 sẽ ra trường và các học sinh lớp 6 sẽ vào trường.Phòng quản lý học sinh sẽ làm nhiệm vụ cập nhập danh sách học sinh của toàn khóa mới.Có nghĩa là sẽ phải nhập thông tin học sinh của khóa mới gồm các thông tin cơ bản như sau: Họ và tên, ngày sinh, giới tính, dân tộc, tôn giáo, nơi sinh, địa chỉ, họ tên phụ huynh, số điện thoại phụ huynh, địa chỉ emai.
4 - Khi các thủ tục cập nhật danh sách học sinh đã hoàn thành thì bước vào năm học mới, một năm học gồm 2 học kỳ: Học kỳ 1 và học kỳ 2: Trong mỗi học kỳ có những điểm số nhất định và nhiệm vụ của hệ thống quản lý điểm là cập nhật điểm và tính toán, tổng kết điểm của học sinh trong quá trình học tập.Giáo viên sẽ cho điểm học sinh theo từng môn học vào hệ thống.Giáo vụ có thể cập nhật lại điểm của mình đã cho.Cuối các kì học thì giáo viên chủ nhiệm sẽ cập nhật hạnh kiểm cho tường học sinh trong lớp mình chủ nhiệm dựa vào học lực và rèn luyện của học sinh đó. - Nhập điểm và tổng kết điểm: Nhập điểm và tổng kết điểm là một công việc quan trọng nhất của chương trình quản lý điểm. Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra để lấy điểm của học sinh trong lớp. Giáo viên bộ môn đánh giá học sinh qua việc chấm điểm, việc đánh giá này phải khách quan, chính xác, đầy đủ, và chi tiết.
Có nhiều điểm nhưng chung quy lại thì có những loại điểm như sau: + Điểm hệ số 1:(Bao gồm điểm miệng, điểm kiểm tra 15 phút, điểm thực hành). + Điểm hệ số 2:(Bao gồm những điểm kiểm tra từ 1 tiết trở lên). + Điểm hệ số 3: (Là điểm thi học kỳ, được tính đặc biệt hơn so với điểm hệ số 1 và điểm hệ số 2). Khi giáo viên bộ môn lấy được đầy đủ các con điểm của học sinh, cuối mỗi học kỳ giáo viên bộ môn sẽ tổng kết lại điểm trung bình của môn học do mình trực tiếp giảng dạy.
Sau đó, giáo viên bộ môn đưa lại cho giáo viên chủ nhiệm điểm trung bình của môn học. 5 Giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm tổng kết lại kết quả học tập của cả học kì và cả năm học khi đã có số liệu về điểm trung bình các môn học của học sinh.Giáo viên chủ nhiệm chuyển điểm tổng kết cuối cùng cho phòng giáo vụ để lưu lại kết quả học tập của học sinh. - Cho điểm học sinh: Chế độ cho điểm học sinh được xác định tùy theo chương trình mà bộ giáo dục và đào tạo quy định vào mỗi năm học và dựa vào đặc điểm, đặc thù của trường học mà ban giám hiệu nhà trường phân công giảng dạy cho giáo viên và số tiết của từng môn học và từ đó xác định số lần kiểm tra đối với môn học như sau: + Môn học có 2 tiết/ tuần trở xuống: kiểm tra ít nhất 4 lần. + Môn học có 3 tiết/ tuần trở xuống: kiểm tra ít nhất 6 lần.
+ Môn học có 4 tiết/ tuần trở xuống: kiểm tra ít nhất 7 lần. - Tính toán điểm:[6] TBM = ( ∑15’ + ∑45’ + điểm thi*2) /∑số các điểm TBHK=(TBM Toán*2 + TBM Văn*2 + ∑TB Các môn còn lại) /∑TB các môn TBCN=(TBHK I + TBHK II*2) / 3 Chú thích: + TBM: Trung bình môn. + TBHK: Trung bình học kì. + TBCN: Trung bình cả năm.
- Xếp loại theo học kì:[6] Sau khi có điểm trung bình cả năm của học sinh thì giáo viên chủ nhiệm xếp loại học tập của học sinh như sau: + Loại giỏi: Điểm trung bình chung học kì(TBHK) >= 8.5 không có một môn nào có điểm trung bình dưới 5.0 nhưng có một môn nào có điểm trung bình dưới 5.0 + Loại trung bình: 8.5 có một môn có điểm trung bình dưới 5.0 không có một môn nào có điểm trung bình dưới 5.0 có một môn có điểm trung bình dưới 3.5 không có một môn nào có điểm trung bình dưới 3.5 có một môn có điểm trung bình dưới 2. - Xét học sinh giỏi, học sinh tiên tiến, học sinh lưu ban: + Học sinh giỏi: là học sinh có học lực giỏi và hạnh kiểm trong học kì là tốt + Học sinh tiên tiến: là học sinh có học lực khá và hạnh kiểm tốt hoặc học sinh có học lực giỏi nhưng hạnh kiểm trung bình hoặc khá. + Học sinh lên lớp là các học sinh có học lực trung bình trở lên và hạnh kiểm không phải loại yếu. + Học sinh lưu ban là học sinh có học lực yếu, kém hoặc học sinh có hạnh kiểm loại yếu 1.
Mô hình tiến trình nghiệp vụ. Xác định tác nhân Từ phân tích tiến trình nghiệp vụ xác định được tác nhân và bộ phận trong hệ thống như sau: - Giáo viên 7 - Phụ huynh, họcc sinh - Giáo vụ trường ng học h 1. Sơ đồ tiến n trình nghiệp nghi vụ Hình 1.1: Sơ S đồ tiến trình nghiệp vụ 8 Chương 2: GIỚI THIỆU CÔNG NGHỆ SỬ DỤNG 2. Mô hình MVC Tất cả bắt đầu vào những năm 70 của thế kỷ 20, tại phòng thí nghiệm Xerox PARC ở Palo Alto.
Sự ra đời của giao diện đồ họa (Graphical User Interface) và lập trình hướng đối tượng (Object Oriented Programming) cho phép lập trình viên làm việc với những thành phần đồ họa như những đối tượng đồ họa có thuộc tính và phương thức riêng của nó. Không dừng lại ở đó, những nhà nghiên cứu ở Xerox PARC còn đi xa hơn khi cho ra đời cái gọi là kiến trúc MVC (viết tắt của Model – View – Controller). MVC được phát minh tại Xerox Parc vào những năm 70, bởi TrygveReenskaug. MVC lần đầu tiên xuất hiện công khai là trong Smalltalk-80.
Sau đó trong một thời gian dài hầu như không có thông tin nào về MVC, ngay cả trong tài liệu 80 Smalltalk. Các giấy tờ quan trọng đầu tiên được công bố trên MVC là “A Cookbook for Using the Model-View-Controller User Interface Paradigm in Smalltalk - 80”, bởi Glenn Krasner và Stephen Pope, xuất bản trong tháng 8 / tháng 9 năm 1988.[1] Kiến trúc mô hình MVC Trong kiến trúc MVC, một đối tượng đồ họa người dùng (GUI Component) bao gồm 3 thành phần cơ bản: Model, View, và Controller. Model có trách nhiệm đối với toàn bộ dữ liệu cũng như trạng thái của đối tượng đồ họa. View chính là thể hiện trực quan của Model, hay nói cách khác chính là giao diện của đối tượng đồ họa.
Và Controller điều khiển việc tương tác giữa đối tượng đồ họa với người sử dụng cũng như những đối tượng khác. Mô hình MVC Khi người sử dụng hoặc những đối tượng khác cần thay đổi trạng thái của đối tượng đồ họa, nó sẽ tương tác thông qua Controller của đối tượng đồ họa. Controller sẽ thực hiện việc thay đổi trên Model.