Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP TÁC NHÀ NƯỚC – TƯ NHÂN ( PPP). Những khái niệm cơ bản: 1. Khu vực nhà nước: Theo Joseph Eugene Stiglitz [4], một cơ quan hay một đơn vị được xếp vào khu vực nhà nước có các đặc điểm sau đây: - Trong một chế độ dân chủ, những người chịu trách nhiệm lãnh đạo các cơ quan công lập đều trực tiếp hay gián tiếp do công chúng bầu ra hoặc được chỉ định. - Các đơn vị trong khu vực công được giao một số quyền hạn nhất định có tính chất bắt buộc, cưỡng chế mà khu vực tư nhân không có được (quyền buộc nộp thuế, xét xử, tịch thu tài sản…).TS Sử Đình Thành [5], từ khi nhà nước ra đời, nền kinh tế - xã hội được chia thành hai khu vực: khu vực công (public sector) và khu vực tư nhân (private sector).
Trong nhiều tài liệu, thuật ngữ khu vực công được sử dụng tương đương như là khu vực nhà nước (viết tắt là KVNN) hay khu vực của Chính phủ. Tất cả các khái niệm này đều hàm ý khu vực nhà nước là khu vực phản ánh hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội do nhà nước quyết định. Ngược lại, khu vực tư nhân (viết tắt là KVTN) là khu vực phản ánh các hoạt động do tư nhân quyết định. Tiêu thức căn bản để phân biệt KVNN và KVTN là dựa vào tính chất sở hữu và quyền lực chính trị.
Tổ chức của khu vực nhà nước gồm có: - Hệ thống các cơ quan công quyền bao gồm: hệ thống các cơ quan quyền lực của nhà nước (các cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp), hệ thống quốc phòng và các cơ quan an ninh, hệ thống các đơn vị cung cấp dịch vụ công, hệ thống cơ quan cung cấp an sinh xã hội. 5 - Hệ thống các đơn vị kinh tế nhà nước như: ngân hàng trung ương, các định chế tài chính trung gian, các doanh nghiệp nhà nước (viết tắt là DNNN), các đơn vị được nhà nước cấp vốn hoạt động. Phân bổ nguồn lực của khu vực nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản của nền kinh tế dựa trên chính sách lựa chọn công, vai trò của Chính phủ và cách thức của Chính phủ vào nền kinh tế nhằm điều chỉnh thất bại của thị trường và tái phân phối thu nhập… 1. Khu vực tư nhân: Với những khái niệm, đặc điểm và tổ chức của khu vực nhà nước như trên, có thể thấy rằng khái niệm khu vực tư nhân là để phân biệt với khu vực nhà nước.
Ở khu vực tư nhân, mọi hoạt động đều do tư nhân quyết định. Tuy nhiên, Nhà nước có ảnh hưởng đến quyết định của khu vực tư nhân thông qua hệ thống văn bản pháp luật cũng như các quy tắc, quy chế điều tiết của Nhà nước với các mức độ và cung cụ khác nhau trong từng thời kỳ. Phân bổ nguồn lực của khu vực tư nhân hoàn toàn chịu chi phối bởi cơ chế thị trường, yêu cầu phân bổ nguồn lực phải tối ưu, lấy lợi nhuận làm mục tiêu. Trong phạm vi một quốc gia, khu vực tư nhân bao gồm tư nhân trong nước và tư nhân nước ngoài thông qua hình thức đầu tư trực tiếp (FDI: Foreign Direct Investment).
Giới thiệu mô hình Hợp tác nhà nước và tư nhân: Có nhiều cách định nghĩa PPP: - Darrin Grimsey và Mervin K. Lewis thì đưa ra định nghĩa là “một mối quan hệ chia sẻ rủi ro dựa trên nguyện vọng của khu vực công với một hoặc nhiều đối tác thuộc khu vực tư nhân hay thiện nguyện cùng chia sẻ việc cung ứng một đầu ra và/hoặc dịch vụ công cộng được thỏa thuận công khai.” 6 - Từ điển Bách khoa mở Wikipedia lại mô tả đó là “một dịch vụ của chính quyền hay thương vụ tư nhân được cấp vốn và vận hành thông qua quan hệ đối tác giữa chính quyền với một hoặc nhiều công ty thuộc khu vực tư nhân, thể hiện bằng một hợp đồng giữa hai bên, trong đó bên tư nhân cung ứng dịch vụ công/dự án và đảm nhiệm rủi ro về tài chính, kỹ thuật và vận hành”. - Ở nước ta, trong Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quyết định 71/2010, PPP được định nghĩa là “việc Nhà nước và Nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án”. Quy chế nêu rõ “tổng hợp các hình thức tham gia của Nhà nước bao gồm: Vốn Nhà nước, các ưu đãi đầu tư, các chính sách tài chính có liên quan, được tính trong tổng vốn đầu tư của Dự án, nhằm tăng tính khả thi của Dự án.
Căn cứ tính chất của từng Dự án, phần tham gia của Nhà nước có thể gồm một hoặc nhiều hình thức nêu trên. Phần tham gia của Nhà nước không phải là phần góp vốn chủ sở hữu trong Doanh nghiệp dự án, không gắn với quyền được chia lợi nhuận từ nguồn thu của Dự án”. Hợp tác nhà nước - tư nhân, hay còn gọi là hợp tác công – tư (Public Private Partnership, được viết tắt là PPP hoặc PPPs) là hệ thống khung pháp luật và chính sách công nhằm đảm bảo quyền lợi, duy trì và khuyến khích khu vực tư nhân vào góp vốn, đầu tư, vận hành cung cấp dịch vụ công. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank, viết tắt là WB), thuật ngữ PPP được sử dụng để nói đến những hình thức thỏa thuận hợp tác từ đơn giản đến phức tạp giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ công mà trước đây thường do KVNN cấp vốn và thực hiện, theo đó, KVTN chấp nhận những rủi ro về hoạt động, kỹ thuật và tài chính, đổi lại KVTN được thu phí từ người sử dụng hoặc nhận thanh toán từ KVNN [7].1: Dự án PPP nằm giữa dự án đầu tư công và đầu tư tư nhân: Dự án công Dự án PPP Dự án tư nhân - Quyết định đầu tư dựa - KVTN bỏ vốn đầu tư - Quyết định đầu tư dựa trên phân tích chi phí – tài sản, thực hiện chức trên tỉ suất lợi nhuận kỳ lợi ích với tỉ suất chiết năng của nhà nước để: vọng.
khấu xã hội nhằm vào - Cung cấp dịch vụ công - Cung cấp hàng hóa, mục tiêu phúc lợi công trực tiếp đến người sử dịch vụ theo nhu cầu thị cộng. dụng, thu phí hoàn vốn trường. - Cung cấp hàng hóa, từ người sử dụng; hoặc - Bỏ vốn đầu tư, quản lý dịch vụ trực tiếp cho cung cấp dịch vụ công và vận hành tài sản. người dân.
cho Nhà nước với vai trò - Là chủ sở hữu tài sản. - Là chủ sở hữu tài sản. người mua, nhận thanh - Thu hồi vốn đầu tư và - Chịu trách nhiệm cấp toán từ Nhà nước. lợi nhuận từ người mua.
vốn đầu tư, quản lý và - Có thể là chủ sở hữu tài vận hành tài sản. sản hoặc không. - Thu phí hoặc không thu phí từ người sử dụng. Mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân (PPP) khá mới đối với Việt Nam, nhưng đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng từ hơn 50 năm nay và đã được triển khai thành công tại nhiều nước trên thế giới, trong nhiều lĩnh vực khác nhau, với các loại dự án điển hình là: nhượng quyền thu phí; thiết kế, xây dựng, cấp vốn và vận hành; nhượng quyền kinh doanh và tư nhân hóa.
Tại các nước công nghiệp hóa, hình thức PPP đã cho phép chuyển giao các dịch vụ công cho khu vực tư nhân với tư cách là một phần của chính sách của nhà nước. Mô hình này nhằm tăng cường khả năng thu hút và khai thác hiệu quả nguồn lực trong xã hội cùng với đầu tư của nhà nước để xây dựng, triển khai thực hiện các chương trình dự án phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, nhờ áp dụng mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân mà nhiều vấn đề bức xúc của nhiều đô 8 thị lớn đã được giải quyết như tình trạng ùn tắc giao thông, cung cấp nước, tạo việc làm cho người lao động… Mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân kết hợp được nhiệm vụ của dịch vụ công với hiệu quả của một hay nhiều doanh nghiệp tư nhân, cho phép chính quyền địa phương nhanh chóng đạt được những tiêu chuẩn quốc tế tốt nhất trong các dịch vụ công, tạo thuận lợi cho chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại. Với mô hình này, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ và tư nhân được khuyến khích cung cấp bằng cơ chế thanh toán theo chất lượng dịch vụ.
Đây là hình thức hợp tác sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân vì tận dụng được nguồn lực tài chính và quản lý từ tư nhân trong khi vẫn đảm bảo các lợi ích cho người dân. Không giống như hình thức tư hữu hóa hay sang nhượng phổ biến ở các nước châu Âu khác, mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân giúp các cơ quan quản lý nhà nước quản lý chặt chẽ chất lượng các dịch vụ do tư nhân cung cấp. Càng không giống hình thức tư nhân hóa khi mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân là hình thức hợp tác có thời hạn thông thường là 25 năm và các cơ sở hạ tầng được xây dựng hay vận hành bởi tư nhân sẽ được giao lại cho nhà nước khi chấm dứt hợp đồng. Theo mô hình Hợp tác nhà nước và tư nhân: - Nhà nước căn cứ vào các quy hoạch, kế hoạch, chương trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng để lập danh mục dự án phát triển kết cấu hạ tầng cần đầu tư, loại hình dịch vụ công cần cung cấp.
- Nhà nước xác định quy mô, công suất, địa điểm, diện tích xây dựng, các hạng mục công trình, nhu cầu sử dụng đất. - Nhà nước phân tích, lựa chọn về công nghệ, kỹ thuật, các điều kiện cung cấp vật tư thiết bị, nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ, hạ tầng kỹ thuật, phương án 9 giải phóng mặt bằng, tái định cư, đánh giá ảnh hưởng của dự án đối với môi trường sinh thái và môi trường xã hội. - Nhà nước dự kiến tổng mức đầu tư dự án, tiến độ xây dựng công trình (khởi công, hoàn thành, nghiệm thu và đưa công trình vào khai thác kinh doanh), thời gian khai thác công trình, phương thức tổ chức quản lý và kinh doanh của nhà đầu tư; dự kiến Phần tham gia của nhà nước trong dự án và đề xuất Cơ chế đặc thù của dự án.