Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực, giáo dục STEM đóng vai trò là giải pháp then chốt nhằm gắn kết kiến thức hàn lâm với đời sống thực tiễn. Tuy nhiên, thực tế giảng dạy môn Sinh học tại trường trung học phổ thông vẫn còn nặng về lý thuyết, thiếu các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và chế tạo sản phẩm. Khảo sát thực trạng cho thấy có tới 70,0% giáo viên chưa từng thiết kế các hoạt động học tập theo định hướng STEM, dù 87,5% trong số họ nhận thức rõ tầm quan trọng của mô hình này. Vấn đề đặt ra là cần xây dựng một quy trình sư phạm chuẩn mực và hệ thống các chủ đề bài giảng mang tính ứng dụng cao để nâng cao chất lượng dạy học.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Huyền tại Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội tập trung vào mục tiêu vận dụng mô hình giáo dục STEM trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật thuộc chương trình Sinh học 10. Đề tài được triển khai trong giai đoạn 2018–2019 tại 18 trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hà Nội và tỉnh Lai Châu. Nghiên cứu đã xây dựng thành công 20 hoạt động dạy học STEM và 3 chủ đề bài học chuyên sâu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình được chứng minh qua việc cải thiện rõ rệt năng lực sáng tạo của học sinh (được 95,0% giáo viên đồng tình) và nâng cao khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn (được 92,5% giáo viên đánh giá cao).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của lý thuyết tích hợp liên ngành Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học, thuyết kiến tạo trong giáo dục và lý thuyết học tập trải nghiệm. Mô hình tích hợp được tiếp cận theo ba hình thức: chủ đề STEM trong một môn học, chủ đề STEM dạy trong nhiều môn học và chủ đề STEM nhiều môn phối hợp.

Bốn khái niệm nền tảng được làm sáng tỏ gồm: giáo dục STEM (phát triển năng lực tư duy liên ngành và giải quyết vấn đề), phân loại STEM (gồm STEM đầy đủ, STEM khuyết, STEM cơ bản và STEM mở rộng), quy trình thiết kế kỹ thuật trong bài học và vi sinh vật học ứng dụng. Nội dung phần Sinh học vi sinh vật chiếm khoảng 33,3% thời lượng chương trình Sinh học 10, bao gồm 3 chương trọng tâm: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật, Sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật, Virut và bệnh truyền nhiễm. Đây là nền tảng khoa học lý tưởng để liên kết với các quá trình kỹ thuật và công nghệ chế biến trong đời sống.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa dạng gồm tài liệu lý luận trong nước và quốc tế, dữ liệu điều tra thực trạng từ phiếu hỏi, giáo án thực nghiệm và kết quả đánh giá năng lực học sinh qua các bài kiểm tra định lượng.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 40 giáo viên Sinh học tại 18 trường trung học phổ thông thuộc hai khu vực địa lý đại diện là đô thị (Hà Nội) và miền núi (Lai Châu), cùng 2 lớp học sinh lớp 10 tham gia thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn - Lai Châu. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho cả trường chuyên, trường chuẩn đô thị và trường phổ thông dân tộc nội trú.

Phương pháp phân tích kết quả kết hợp định tính (quan sát hoạt động nhóm, phỏng vấn chuyên gia, đánh giá sản phẩm thực hành) và định lượng (thống kê toán học với các tham số: điểm trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn, kiểm định t-test và hệ số biến thiên). Việc lựa chọn phương pháp phân tích này nhằm đảm bảo tính khách quan, đo lường chính xác sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Toàn bộ quy trình nghiên cứu, khảo sát và thực nghiệm được tiến hành xuyên suốt từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách lớn giữa nhận thức và năng lực triển khai thực tế của giáo viên. Mặc dù 87,5% giáo viên đã biết đến mô hình giáo dục STEM và 82,5% khẳng định việc đổi mới theo STEM là quan trọng, nhưng có tới 70,0% giáo viên chưa từng thiết kế hoạt động STEM và 50,0% hiếm khi giao nhiệm vụ tạo ra sản phẩm thực tế cho học sinh.

Thứ hai, mô hình dạy học STEM mang lại hiệu quả vượt trội đối với kết quả học tập của học sinh. Kết quả thực nghiệm sư phạm cho thấy điểm trung bình của lớp thực nghiệm đạt mức cao hơn đáng kể so với lớp đối chứng, tần suất đạt điểm khá và giỏi (từ 7,0 đến 10,0 điểm) ở lớp thực nghiệm chiếm tỷ lệ áp đảo, trong khi tỷ lệ điểm dưới trung bình giảm rõ rệt.

Thứ ba, tác giả đã thiết kế thành công hệ thống 20 hoạt động giáo dục STEM đa dạng và 3 chủ đề học tập chuyên sâu, tiêu biểu là chủ đề "Vi sinh vật với vấn đề chế biến thực phẩm". Các hoạt động này hướng dẫn học sinh tự làm sữa chua, muối dưa cải, lên men rượu nho, làm cơm mẻ, ủ nếp cẩm và thiết kế mô hình cấu trúc virut từ vật liệu tái chế.

Thứ tư, giáo dục STEM cải thiện vượt bậc các kỹ năng thế kỷ 21. Khảo sát giáo viên ghi nhận: 95,0% nhận định STEM giúp học sinh phát triển năng lực sáng tạo, 92,5% khẳng định nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn, 90,0% đánh giá cao việc rèn luyện kỹ năng thực hành và 85,0% đồng ý rằng học sinh hiểu bài sâu sắc hơn.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội của lớp thực nghiệm bắt nguồn từ việc chuyển đổi phương pháp tiếp nhận thụ động sang học tập thông qua hành động. Khi trực tiếp tham gia các quy trình lên men lactic hay lên men etilic, học sinh được tự tay tính toán tỷ lệ nguyên liệu (Toán học), kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm tối ưu (Vật lý - Công nghệ), phân tích phản ứng hóa sinh (Hóa học) và quan sát vòng đời vi khuẩn (Sinh học).

Dữ liệu thực nghiệm được minh chứng sinh động thông qua bảng tham số thống kê đặc trưng và các biểu đồ phân bố tần suất tích lũy. Đường cong phân bố điểm số của lớp thực nghiệm luôn nằm lệch về phía bên phải so với lớp đối chứng, phản ánh phổ điểm cao và sự đồng đều trong năng lực tiếp thu. Kết quả này hoàn toàn tương thích với các công bố giáo dục STEM tại Anh và Mỹ, đồng thời giải quyết triệt để tình trạng học sinh chỉ ghi nhớ lý thuyết máy móc mà không thể vận dụng vào thực tế gia đình và địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Ban Giám hiệu các trường trung học phổ thông cần chủ động tổ chức các khóa tập huấn bồi dưỡng kỹ năng thiết kế bài học STEM cho giáo viên, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ giáo viên tự xây dựng chủ đề STEM từ mức 30,0% hiện nay lên tối thiểu 75,0% trong giai đoạn 2020–2022.

Thứ hai, Tổ chuyên môn các bộ môn Sinh học, Hóa học, Vật lý và Công nghệ cần thiết lập kế hoạch sinh hoạt chuyên môn liên môn định kỳ 2 lần mỗi học kỳ, đưa hệ thống 20 hoạt động STEM vi sinh vật vào phân phối chương trình giảng dạy chính khóa và ngoại khóa ngay từ năm học 2019–2020.

Thứ ba, Giáo viên bộ môn Sinh học cần thay đổi phương thức kiểm tra đánh giá, chuyển dịch từ bài kiểm tra viết truyền thống sang đánh giá theo tiến trình dựa trên rubric sản phẩm thực hành và báo cáo dự án, đảm bảo 100% học sinh được trực tiếp tham gia chế tạo ít nhất 2 sản phẩm lên men hoặc bảo quản thực phẩm trong mỗi năm học.

Thứ tư, Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh thành cần ưu tiên bố trí ngân sách, đầu tư bổ sung tối thiểu 50,0% trang thiết bị, dụng cụ và hóa chất vi sinh cơ bản cho các trường trung học phổ thông vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo lộ trình 3 năm nhằm đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất đồng bộ cho giáo dục thực nghiệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Giáo viên môn Sinh học cấp trung học phổ thông: Khai thác trực tiếp bộ giáo án mẫu và 20 quy trình hoạt động STEM chi tiết để áp dụng vào các tiết học trên lớp, tiết thực hành hoặc sinh hoạt câu lạc bộ khoa học mà không mất nhiều thời gian biên soạn lại.

Cán bộ quản lý giáo dục và Tổ trưởng chuyên môn: Sử dụng quy trình 4 bước xây dựng bài học STEM và hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực làm căn cứ chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy, tổ chức các ngày hội STEM quy mô cấp trường và liên trường.

Sinh viên và Học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Sinh học: Tiếp cận một khung nghiên cứu chuẩn mực, phương pháp khảo sát thực trạng trên 18 trường và kỹ thuật xử lý số liệu thực nghiệm sư phạm bằng toán học thống kê để phát triển các đề tài nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên gia phát triển chương trình và Tác giả sách giáo khoa: Tham khảo các minh chứng thực nghiệm và ý kiến đóng góp từ 40 giáo viên thực tế để tối ưu hóa việc tích hợp nội dung công nghệ sinh học và bài học liên môn trong các bộ sách giáo khoa mới.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình giáo dục STEM trong luận văn được vận dụng cho phần kiến thức nào của Sinh học 10? Luận văn tập trung triển khai mô hình STEM cho toàn bộ Phần ba: Sinh học vi sinh vật, bao gồm 3 chương về chuyển hóa vật chất và năng lượng, sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật, virut và bệnh truyền nhiễm. Đây là phần kiến thức mang tính thực tiễn cao, rất thuận lợi để tích hợp kiến thức liên môn với Hóa học, Vật lý và Công nghệ chế biến thực phẩm.

Thực trạng triển khai dạy học STEM tại các trường khảo sát diễn ra như thế nào? Khảo sát trên 40 giáo viên tại 18 trường trung học phổ thông ở Hà Nội và Lai Châu cho thấy 87,5% giáo viên đã biết đến STEM nhưng chỉ có 30,0% từng thiết kế bài giảng STEM. Nguyên nhân chủ yếu do chương trình còn nặng lý thuyết, thời lượng tiết học ngắn, thiếu phương tiện thí nghiệm và giáo viên còn lúng túng trong khâu thiết kế hoạt động tích hợp.

Luận văn đã đóng góp những sản phẩm sư phạm cụ thể nào? Tác giả đã đóng góp 20 hoạt động dạy học STEM có hướng dẫn chi tiết từ chuẩn bị nguyên liệu đến tiêu chí đánh giá, xây dựng hoàn chỉnh quy trình thiết kế bài giảng STEM 4 bước và biên soạn 3 giáo án chuyên đề mẫu gồm: Vi sinh vật với chế biến thực phẩm, Vi sinh vật với bảo quản thực phẩm, và Virut với phòng chống bệnh truyền nhiễm.

Kết quả thực nghiệm sư phạm chứng minh tính hiệu quả của mô hình như thế nào? Qua thực nghiệm đối chứng tại Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn - Lai Châu, lớp học theo mô hình STEM đạt điểm số trung bình cao hơn hẳn, tỷ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi tăng vượt bậc và không có điểm yếu kém. Học sinh thể hiện sự hứng thú, chủ động làm việc nhóm và nâng cao rõ rệt kỹ năng giải quyết các bài toán thực tiễn.

Những điều kiện cơ bản để nhà trường áp dụng thành công các chủ đề STEM này là gì? Nhà trường cần tạo điều kiện linh hoạt về mặt thời gian, khuyến khích giáo viên phối hợp liên môn, tận dụng các nguyên vật liệu đơn giản, rẻ tiền sẵn có tại địa phương (như gạo, ngô, cải xanh, hoa quả, sữa) và áp dụng đa dạng các hình thức đánh giá theo rubric sản phẩm thay vì chỉ dùng điểm số bài thi viết.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về giáo dục STEM và đánh giá khách quan thực trạng giảng dạy tại 18 trường trung học phổ thông ở Hà Nội và Lai Châu.
  • Xây dựng thành công quy trình thiết kế bài học STEM chuyên biệt cho môn Sinh học gồm 4 giai đoạn chuẩn mực, gắn liền với định hướng phát triển phẩm chất và năng lực.
  • Đóng góp bộ công cụ thực hành phong phú với 20 hoạt động STEM sáng tạo và 3 chủ đề dạy học thực nghiệm có tính ứng dụng cao trong đời sống thực tế.
  • Chứng minh tính hiệu quả vượt trội của mô hình qua thực nghiệm sư phạm, giúp nâng cao kết quả học tập và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh lên 95,0%.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về cơ chế quản lý, đào tạo giáo viên và đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng thực hành sản phẩm.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2020 đến 2025, mô hình này cần được nhân rộng ra toàn bộ các phân môn Sinh học cấp trung học phổ thông trên cả nước. Các thầy cô giáo và nhà quản lý giáo dục hãy chủ động áp dụng ngay các chủ đề STEM vi sinh vật này vào thực tiễn giảng dạy để khơi dậy niềm đam mê khoa học và năng lực sáng tạo cho thế hệ trẻ.