CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE QUAN LY UNG DUNG CONG NGHE THONG TIN TRONG DẠY HỌC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1 Các nghiên cứu ở nước ngoài Thuật ngữ Công nghệ thông tin được dịch từ tiếng Anh: Information technology (IT), thuật ngữ “Công nghệ thông tin” xuất hiện vio thing 11 năm 1958 trong bài viết: Management ¡n the 1980's, xuất bản trên tạp chí Harvard. Hai tae gia của bài iét la Harold J. Leavitt va Thomas L.
Whisler đã bình luận: *Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tỉ ° [24, trl]. Thuật ngữ này thực chất gắn liền với sự phát triển của máy tính cá nhân cùng với sự ra đời của các tư liệu sản xuất khác đã tạo nên cuộc. cách mạng công nghiệp lần thứ ba và hiện nay nó là nền tảng cho cuộc cách mang công nghiệp lần thứ tư.
Từ khi xuất hiện trên thế giới CNTT đã tạo ra bước phát triển vượt bậc giúp ích cho đời sống xã hội và con người, nó đã ảnh hưởng to lớn tới tất cả mọi mặt của đời sống xã hội. mở ra những chân trời mới, những khám phá sáng tạo mới cho con người. Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn nên kinh tế tri thức. Bốn động lực chính của nên kinh tế tri thức là: Thể chế, chính sách kinh tế; Nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực và khả năng sáng tạo; Nâng cao năng lực khoa học công nghệ quốc gia và xây dựng được hệ thống đổi mới quốc gia; Đây mạnh ứng dụng và phát triển mạnh mẽ CNTT và truyền thông.
Trong các động lực trên, việc đây mạnh phát triên CNTT là động lực to lớn nhất thúc đây sự phát triển nền kinh tế tri thức. Tất cả các quốc gia trên thể giới đều xem phát triển GD&ĐT là động lực đề phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển nền kinh tế tr thức nói riêng. Nói đến ƯDCNTT phải kể đến các quốc gia “cường quốc” về công nghệ trên thế giới và các nước có nền GD phát triển đều chú trọng đến việc ƯDCNTT như: My, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Điền, Dan Mach, Phan Lan, Ba Lan, Australia, Canada, Singapore. Để quản lý tốt việc ƯDCNTT như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như UDCNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và GD.
Họ coi đây là là chia khoá để xây dựng và phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nên kinh tế đẻ xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Các quốc gia có nền GD phát triển đã phát triển mô hình trường học thông minh dựa trên nền tảng CNTT và truyền thông (ICT) để tạo ra môi trường DH mọi lúc, mọi noi va cai thiện hệ thống quản lý trường học và đào tạo HS dựa trên máy tinh, công nghệ mạng đề đáp ứng nhu cầu nâng cao chát lượng GD thé ky XXI [1, tr106]. Mỹ là quốc gia nơi máy tính đầu tiên ra đời. Do đó, một điều chắc chắn là có nhiều nghiên cứu về ƯDCNTT trong DH.
Các trường học tại Mỹ luôn dẫn đầu về các CNTT và khoa học máy tính hiện nay. Việc sử dụng máy tính trong môi trường học đường và đại học để học chính là các thử nghiệm quy mô nhỏ với các công cụ 'Computer-supported Collaborative Learning - Học tập hợp tác hỗ trợ máy tính. Mỗi lớp học được trang bị 8 máy tính Macintosh và một máy in. Các lớp học CSILE của Hawthorne được liên kết với nhau thông qua mạng LAN.
Năm 1984 Perkins và các đồng sự tại đại học Harvard đã nhắc đến cụm từ “Smart School” tức là trường học thông mình [1, tr106]} Nhật Bản, từ những năm 1972 họ đã xây dựng chương trình Quốc gia có tên: “Kế hoạch một xã hội thông tin - mục tiêu quốc gia đến năm 2000° đã được công bố. Trong cuộc cải cách GD ở Nhật Bản đã nhằm vào các mục tang tim quan trọng đặc biệt việc phát triển của từng cá nhân; chuyên sang hệ thống GD hoc tap suốt đời; tạo sự cân bằng giữa các kiến thức truyền thống với các kiến thức công nghệ tiên tiến nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết hiện nay tại Nhật Bản phục vụ xu hướng quốc tế xã hội và thời đại thông tin. Thời gian gần đây Nhật bản cùng nhiều quốc gia khác đây mạnh xây dựng mô hình trường học thông minh. Singapore, Từ năm 1981 chính phủ đã thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia quy định ba nhiệm vụ là: thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ.
Dự ấn lớp học tương lai của Đại hoc Nang Yang ứng dụng ICT theo hướng khắp nới là trường học. Trong mô hình lớp học đó, HS có thé lắp cặp sách điện tử gần bàn học, chúng sẽ đồng bộ với màn hình lớn, rất tiện lợi để giao lưu trao đổi giữa HS với nhau, để giao nhận bài tập cũng như phản hồi giữa GV và HS[1, tr 108]. Malaysia: Năm 1996, Malaysia xây dựng tầm nhìn phát triển Trường học. Ý tưởng này còn gọi là trường học thông minh, chứa đựng những sáng kí ;š quản lý ƯDCNTT thông qua việc xác định thành phần của mô hình là “môi trường dạy-học mới” [1, tr107].
Han Quốc hiện nay được đánh giá là một trong 10 quốc gia có trình độ khoa học và công nghệ xếp hàng đầu thế giới. Các hoạt động về chính phủ điện tử và ƯDCNTT được phân biệt: Các dự án có liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương. được xem như là dự án chính phủ điện tử được sử dụng ngân sách tập trung. Quốc gia này có lợi thế nhờ có sự đầu tư của nhiều tập đoàn công nghệ nỗi tiếng thể giới.
Tập đoàn Samsung cũng “đẻ xuất giải pháp trường học thông minh gồm 03 thành phan cét lõi gồm hệ thống quản lý có tính tương tác; hệ thống quản lý học tập và hệ thống thông tin HS” [I, tr107]. Có thể thấy nhiều nước trên thể giới đã nghiên cứu ƯDCNTT từ rất lâu, vấn đề quản lý ƯDCNTT cũng được quan tâm thông qua các chủ trương, chính sách xây dựng mô hình trường học thông minh, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin dé chuyển đôi lớp học. Các nghiên cứu ở trong nước: Ở Việt Nam, trong thời kỳ kháng chiến cứu nước và sau này đến thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương vận dụng công nghệ - thông tin trong nhiều lĩnh vực đời sống, trong đó có GD&ĐT đã được nhấn mạnh và cụ thể hoá trong nhiều nghị quyết của Đảng và Chính phủ: Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai số 02-NQ/HNTW BCHTW Đảng (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, ngày 24/12/1996 xác định "Cùng với giáo dục - đảo tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu” và “Khoa học và công nghệ gắn với giáo dục và dio tạo” từ đó trở đi đã có nhiều nghiên cứu khoa học nhằm ƯDCNTT để mang lại hiệu quả cao trong dạy học; Nhằm tạo chuyên biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tô quốc và nhu cầu học tập của nhân dân ngày 04 tháng 11 năm 2013 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng ban hành Nghị Quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong diễu kiên kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế xác định nhiệm vụ, giải pháp trong đó c‹ 'Đẩy mạnh ƯDCNTT và truyền thông trong dạy và học”. Trong DH, CNTT duge sử dụng như là một công cụ lao động, giúp lãnh đạo nhà trường nâng cao chất lượng quản lý, giúp các thầy cô giáo nâng cao chất lượng DH, giúp HS tìm kiếm thông tin dé giải quyết vấn đề trong học tập.
Với bản chất tốc độ cao, kết nối rông, được chứng minh hiệu quả cao trên nhiều lĩnh vực nên việc ƯDCNTT trong quản lý và tổ chức hoạt động DH, quản lý ƯDCNTT trong DH đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu thể hiện qua các loại sách, giáo trình, các bài báo khoa học, đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ: tác giả Tô Xuân Giáp (1997), Phương tiện DH, Nxb GD, Hà Nội; tác giả Lê Công Triêm, Nguyễn Đức Vũ (2006), ƯDCNTT trong DH, Nxb GD; tác giả Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn (2008) với giáo trình ƯDCNTT trong DH tích cực, Nxb GD [22, trl5}; nhóm tác giả Lê Huy Hoàng (Chủ biên), Nguyễn Duy Hải, Huỳnh Thiên Lương, Đặng Vinh Quang (2012), ƯDCNTT trong lớp học và hệ thống hướng dẫn qua mạng, Nxb GD Việt Nam. [16]: tác giả Bùi Việt Phú và Lê Quang Sơn trong giáo trình sau đại học *Xu thế phát triển GD” do Nxb GD Việt Nam xuất bản năm 2013 có nói nhiều đến ƯDCNTT của các nước trên thế giới và ở Việt Nam. Nghiên cứu GD của Nguyễn Quang Lac, Lê Công Triêm (1992), "Một số điểm về co sở lý luận DH của việc sử dụng máy tính điện tử”; Đề tài cấp Bộ của Đào Thái Lai (2006), ƯDCNTT trong. DH ở trường phô thông Việt Nam, [20]; Trần Minh Hùng, Bồi dưỡng nâng cao trình độ ƯDCNTT cho đội ngũ GV trường trung học phổ thông - Một nhiệm vụ 10 quan trọng của Hiệu trưởng, Tạp chí GD (số 323 kỳ 1 - thang 12/2013) [17]; Nguyễn Văn Toàn (2016), Thực trạng và biện pháp ƯDCNTT trong quản lý hoạt động bồi dưỡng GV trung học phô thông một số tỉnh phía nam, đăng trên Tạp chí GD (số 382 ky 2- thang 5/2016) [26]; tác giả Phạm Thị Lệ Hằng có bài ƯDCNTT.
trong DH ở các trường THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới GD hiện nay trên Tạp chí GD (số đặc biệt tháng 6/2016), [14]; Vũ Đức Thông (2016), Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông của GV, đăng trên Tạp chí GD, (số đặc biệt tháng 9/2016) [25]: bài viết của Nguyễn Viết Thảo (2017) về Cách mạng công nghiệp thứ tư là đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5; tác giả Vũ Thanh Dung, Một số biện pháp ƯDCNTT trong DH ở trường phổ thông đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghiệp 4.