Chương I. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông theo chuẩn nghề nghiệp. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp ở các trường trung học phổ thông huyện Gidng Riéng, tinh Kiên Giang. Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên theo.
chuẩn nghề nghiệp ở các trường trung học phổ thông huyện Giồng Riễng, tỉnh Kiên Giang. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOAT DONG BOL DUONG GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHÓ THÔNG THEO CHUAN NGHÈ NGHIỆP. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nhiều nước trên thế giới rất quan tâm đến việc bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên một cách thường xuyên.
Tai Singapore Chính phủ quan tâm đến việc bồi dưỡng giáo viên bằng cách ấn định kinh phí công tác bồi dưỡng hằng năm và định mức kinh phí cụ thể cho từng nội dung bồi dưỡng. Căn cứ vào vào trình độ hiện tại của từng giáo viên, các nhà trường rà soát những nội dung còn thiếu và cấp kinh phí trực tiếp cho giáo viên để bồi dưỡng. Chính phủ Singapore dành nhiều thời gian cho việc phát triển chuyên môn của GV bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú như mở các khóa học, tô chức hội thảo hoặc các đợt tập huấn. GV chủ động lựa chọn các hình thức để tham gia và hoàn thiện kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp của mình.
Như vậy ta thấy việc bồi dưỡng giáo viên tại đảo quốc. Singapore đa dạng và phong phú về hình thức, trong đó người giáo viên được chủ động trong hoạt động bồi dưỡng của mình [26]. Chương trình đảo tạo sư phạm tại Liên bang Nga rất đa dang, dam bio cho giáo viên được đào tạo có kiến thức và kỹ năng cân bằng trong cả lý thuyết và thực hành, do vậy họ rit coi trọng công tác bồi dưỡng giáo viên trong suốt thời gian hoạt động nghề nghiệp, nhằm nâng cao vị thế, trình độ của giáo viên trong xã hội. Liên bang Nga luôn tạo ra những điều kiện vật chất, tỉnh thần trong các hoạt động tô chức bồi dưỡng giáo viên [26].
Philippin: Công tác bồi dưỡng cho giáo viên không tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng vào các khóa học trong thời gian học sinh nghỉ hè. Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lí học và đánh giá trong giáo dục; hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; hè thứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục và hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, éu gidng day. Trung Quốc luôn đặt vai trò quan trọng của nghề dạy học và chất lượng dạy học trong việc đóng góp vào kết quả học tập, do đó thật dễ hiểu khi chất lượng giáo viên được coi là quan trọng nhất, ảnh hưởng đến thành tích học sinh. Chính vì vậy, nền giáo dục Trung Quốc đặc biệt coi trọng vấn đề bồi dưỡng cho.
giáo viên một cách toàn diện từ tư tưởng chính tri, đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ [26]. Tại Thái Lan: Từ năm 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm học công đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội. Ở Nhật Bản có hình thức tổ chức “Nghiên cứu bài học ” đề tăng cường BDcho giáo viên, tăng cường năng lực tự học, tự nghiên cứu trong hoạt động chuyên môn hàng ngày ở trường. Việc BD và đảo tạo lại cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc.
Tùy theo thực tế của từng đơn vị mà các cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức BD khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Nhà nước bắt buộc GV phổ thông mới vào nghề BD hằng năm. Những GV khác được BD bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phương thức phong phú, đa dạng [26]. Chính phủ Pháp tổ chức sát hạch trình độ GV, qua đó cắp thẻ GV cho mới cho GD, trong đó đề cập đến công tác đảo tạo, BD cho GV.
Hằng năm, mỗi GV được đảo tạo tiếp tục ít nhất 35 giờ. Chính sách BD giáo viên quy 10 định mỗi GV phải dành 04 giờ/tuần nghiên cứu tài liệu tại trường [26]. Ở Phần Lan, đào tạo giáo viên là một phần quan trọng và được công. nhận trong hệ thống giáo dục đại học.
Hằng năm có ba ngày phát triển nghề nghiệp bắt buộc do ngành giáo dục địa phương tổ chức và mọi giáo viên phải tham gia tích cực. Mỗi giáo viên và cán bộ quản lý trường học có quyền quyết đị xem ngoài ba ngày đó học cần thêm bao nhiêu thời gian và cần phát triển loại hình nào, chương trình nào cho phủ hợp với mình và trường của mình. Mỗi năm, ngân sách nhà nước Phần Lan thường dành khoảng 30-40 triệu đô la Mỹ cho phát triển, bồi dưỡng cho gi: viên và hiệu trưởng nhà trường thông qua các khóa học đảm bảo mọi giáo viên được tiếp cận đảo tạo liên tục một cách công bằng giữa các địa phương trên đất nước [38]. Tại Hàn Quốc: 16 sở giáo dục các tỉnh, thành phố ở Hàn Quốc quan ly các viện Đào tạo sư phạm, đưa ra các chương trình đào tạo khác nhau trong việc BD hằng năm, bao gồm: Huấn luyện chứng chỉ, huấn luyện về nghề nghiệp hoặc các dạng huấn luyện khác.
GV bắt buộc thực hiện chương trình BD kéo dài 182 giờ trong 01 năm. Chương trình BD thiết kế riêng cho từng, đối tượng, phân loại phủ hợp với mục đích BD, bao gồm: BD về chương trình giảng dạy; đào tạo số hóa thông tin, dữ liệu; BD chung; BD nghiệp vụ sư phạm:. GV quyết định nội dung và thời gian của mỗi khóa BD. Nội dung BD hướng tới phương pháp giảng dạy tiên tiến, kiến thức mới.
Như vậy, GV ở Hàn Quốc tự chủ trong việc lựa chọn nội dung BD trong khoảng thời gian bắt buộc và nội dung BD rất phong phú [26]. Nội dung, chương trình BD GV ở một số nước trên thế giới quan tâm. đến phát triển phẩm chất, kiến thức, kỹ năng đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp. Phương pháp, hình thức BD GV đa dạng, vận dụng theo hướng tích hợp, linh hoạt, sáng tạo, gắn với sự đổi mới nội dung, chương trình dạy học.
Một số kết quả nghiên cứu ở nước ngoài nêu trên cho thấy: Ở hầu hết "HH các nước, hoạt động BD GV được Nhà nước rất quan tâm. Nội dung, chương. trình BD đa dạng. GV được BD tập trung tại trường đại học, BD trong năm qua các hoạt động phong phú, tự BD qua nhiều hình thức khác nhau.
Mục tiêu chung của công tác BD GV các nước là nâng cao năng lực nghề cho GV, đáp ứng yêu cầu của xã hội và sự phát triển không ngừng của khoa học GD. Các nghiên cứu ở trong nước. Tai Việt Nam, trong những năm gần đây, các nghiên cứu về vấn đẻ bị dưỡng giáo viên nói chung, BD cho giáo viên nói riêng của các nhà khoa học. đã có một sô đê nghiên cứu, nhiề sách, công trình viết về đề tài này.
Tiêu biểu là các đề tài: Nghiền cứu đề xuất các giải pháp cải cách công tác đào tạo, bôi dưỡng giáo viên phô thông, Mã số: 01-2010 của Nguyễn Thị Bình (2012); Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới đào tạo giáo viên, đáp ứng yêu cầu giáo dục phố thông trong thời kì CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, Đề tài NCKHGD cấp Bộ B201 1-17-CT01 của Phan Trọng Ngo; Nghiên cứu giải pháp đổi mới quản lý đào tạo giáo viên ở các trường ĐHSP, Đề tài NCKHGD cấp Bộ B2001 1-17-CT05 của Phạm Quang Huân. Đặc biệt, các nghiên cứu của tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến trong cuốn sách “Đổi mới đào tạo giáo viên trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện của giáo dục Liệt Nam" do NXBGD ấn hành (2013) đã phân tích xu thế và một số mô hình đổi mới, cải cách đảo tạo giáo viên trên thế giới đồng thời đưa ra những đổi mới dio tao, bồi dưỡng giáo viên ở Việt Nam theo định hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc Đào tạo, BD GV theo định hướng phát triển năng lực hành động sư phạm đề đáp ứng quá trình đổi mới GD phô thông. Mục đích BD GV cần mô tả yêu cầu đầu ra rõ ràng theo các thành phần năng lực (năng lực: Chuyên môn, phương pháp, xã hội, cá nhân). Nội dung BD cần mô tả theo mô hình cấu trúc năng lực.
Tổ chức các khóa tập huấn thích hợp để phát triển năng lực 12 hành động, thực hiện những phương pháp, kĩ năng mới trong giảng dạy cho. Phương pháp BD: Lấy người học làm trung tâm, tăng cường vai trò chủ động, sáng tạo của người học. Đánh giá tập trung vào khả năng vận dụng của GV sau khi BD. Trong nghiên cứu về: “Đổi mới công tác đào tạo, BD GV và CBỌL - yêu cầu tắt yếu của đổi mới GD” (2015), tác giả Nguyễn Văn Minh đã nhận định: Nội dung và hình thức BD GV hiện nay chưa tạo được động lực tự thân của GV, chưa tận dụng tốt công nghệ thông tin, chưa có chế hình thức động viên khuyến khích [30].
Nghiên cứu về c¿ cách sư phạm và chuyển đổi mô hình đào tạo GV trong nhà trường hiện đại, tác giả Trần Khánh Đức đã nêu: Theo mô hình cũ, GV được BD theo chu kỳ do Bộ GDĐT tổ chức, giá trị văn bằng suốt đời còn theo mô hình mới, GV được BD tại cơ sở đào tạo theo chu kỳ 2 đến 5 năm đề duy trì giá trị văn bằng. Giá trị văn bằng có thời hạn 05 năm. Gần đây xuất hiện một số đề tài và luận án tiến sĩ chuyên ngành đề cập đến vấn đề đổi mới đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cũng đã đóng góp nhất định về lý luận và thực tiễn tiêu biểu như: Trong Luận án Tiến sĩ của mình, tác giả Lê Khánh Tuấn nêu quan điểm: Đào tạo, BD; khuyến khích tự học, đào tạo, BD lẫn nhau là những hoạt động, tác động giúp tăng cường kĩ năng và nghiệp vụ sư phạm cho GV. Hiệu quả là: Đổi mới phương pháp dạy học nhanh hơn, nâng cao khả năng tự học của GV, nâng cao chất lượng GD [34, tr131].