CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẦN LÝ HOẠT DONG BOI DUONG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO CHUAN NGHE N ẸP 1. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường tiêu học đã được nhiều nước trên thé giới thực hiện theo nhiều cách khác nhau. Trong những năm gần đây trên thế giới xuất hiện không ít các công trình nghiên cứu vẻ bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dưới góc độ nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực.
Trong đó đặc biệt chú trọng tới chất lượng giáo dục và chất lượng đội ngũ giáo viên. Đề cao khía cạnh phát triển bền vững, thích ứng nhanh của từng giáo viên và cả đội ngũ trước sự phát triển của khoa học công nghệ với những bước tiến nhảy vọt và xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Nhà xã hội học người Mỹ, Christan Batal cho rằng quản lý nguồn nhân lực phải có ba nhiệm vụ chính là: Phát triển nguồn nhân lực (gồm giáo dục, đảo tạo, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); sử dụng nguồn nhân lực (gồm tuyển dụng, sảng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hóa sức lao động) và môi trường nguồn nhân lực (mở rộng chủng loại làm việc, mở rộng quy mô làm việc, phát triỂn tổ chức.A Kômenxky (1592 - 1670) là nhà giáo dục lỗi lạc - người đặt nền móng cho. ý luận dạy học hiện đại đã đánh giá cao vai trò của giáo dục và coi nghề dạy học là nghề vinh quang nhất. Nên đòi hỏi người thầy phải được bồi dưỡng về năng lực dạy học và nghệ thuật sử dụng các cách thức, thủ thuật khác nhau trong giảng dạy nhằm giúp học sinh lĩnh hội tốt hơn những tri thức được trang bị.
Ông cho rằng, phương. pháp giảng dạy muốn trở nên hấp dẫn, điều hiển nhiên là “không thê thiếu năng khiếu day hoc”.Vial, nhà giáo dục Pháp, trong cuốn jch sử và Thời sự về các phương pháp. sư phạm” đã nhận định về đặc điểm lao động của giáo viên theo hướng mới. Người khẳng định: “Người dạy không chỉ làm tốt chức năng kép của mình là biết cách truyền đạt cái người học cần mà còn biết tổ chức quá trình nhận thức cho người học có thể tích cực, chủ động chiếm lĩnh nội dung học” [28].
Để thực hiện vai trò “trọng tài, có van” trong quá trình dạy học, người giáo viên phải có phẩm chất đồng thời của nhà sư phạm ‘va nha khoa học. Từ lập luận của J.Vial, có thể xem đây là đặc thù lao động ở bình diện chức năng, nhiệm vụ nghề nghiệp của người giáo viên. Tác giả Kowalski Stanislaw khi nghiên cứu xã hội học giáo dục và giáo dục học đã khăng định “Thây giáo như là một khâu kết hợp nhà trường với môi trường” và đề cập đến các loại quản lí và phong. cách quản lí nhà trường, vai trò xã hội và trình độ nghề nghiệp của thầy giáo [25].
Phát triển đội ngũ giáo viên là phát triển nguồn nhân lực của một ngành, một lĩnh vực. Ở Hoa Kỳ những năm cuối của thập niên 60, các khái niệm “Nguồn vốn con ngư 'guồn lực con người” xuất hiện, sau đó thịnh hành ở các nước khác trên thể giới. 'Vào những năm 70, 80 với sự phát triển tiếp nối của nhà kinh tế người Mỹ nhận giải thưởng Nobel Kinh tế Gary Backer, vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên cũng được ông giải quyết với tư cách là phát triển nguồn nhân lực của một ngành, một lĩnh vực. Tuy nhiên nội dung và cách thức giải quyết vấn đề có sự khác nhau ở nhiều.
mức độ và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thực tế của mỗi quốc gia và mỗi giai đoạn lịch sử. Christian Batal trong bộ sách *Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” đã đưa ra một lý thuyết tổng thẻ về phát triển nguồn nhân lực. Ông cho rằng, bức tranh của nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực, bao gồm từ khâu kiểm kê, đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu quả của nguồn nhân lực. Khi đề cập đến phát triển đôi ngũ giáo viên, ngoài sự thống nhất về nội dung các nhiệm vụ với quản lý phát triển nguồn nhân lực, thời gian gần đây những nghiên cứu trên thể giới đều dành sự quan tâm đặc biệt tới chất lượng giáo viên, đề cao việc thúc đây phát triển bền vững và thích ứng nhanh của người giáo viên và cả đội ngũ.
Trong đó việc xuất hiện các công nghệ dạy học mới, dẫn đến nhu cầu thay đổi vai trò và phương pháp của người thầy càng trở nên cấp thiết. Các hình thức bồi dưỡng giáo viên cũng trở nên đa dạng và phong phú, kèm theo đó là chính sách giảm giờ dạy lý thuyết trên lớp của giáo viên. Công trình nghiên cứu của OECD (Tỏ chức Hợp tác phát triển châu Âu) đã đề cập đến chất lượng giáo viên gồm 5 mặt: Kiến thức phong phú về nội dung chương trình và nội dung bộ môn được giao giảng dạy; Kỹ năng sư phạm kể cả việc tạo được “kho kiến thức" về phương pháp dạy học, về năng lực sử dụng những. phương pháp đó; Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đẻ và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học.
Một số kết quả nghiên cứu trong nước: Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu trong nước về khoa học quản lý nguồn nhân lực, có thể kể đến ấn phẩm: Quản trị nhân sự của tác giả Nguyễn Hữu Thân (2008); Quản trị nguồn nhân lực của các tác giả Đồng Thị Thanh Phương, Nguyễn Thị Ngọc An (2008); Giáo trình quản trị nhân lực của các tác giả Nguyễn. 'Văn Điểm, Nguyễn Ngọc Quân (2010); Quản lý nguồn nhân lực của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Thị Bạch Mai (2009). Những tác phẩm này trình bày hệ thống kiến thức khoa học cơ bản về vai trò của nguồn nhân lực, chức năng quản lý nguồn nhân lực và một số công cụ cần thiết đẻ quản lý nguồn nhân lực trong tô chức. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm của thế lới và thực trạng ở Việt Nam, cuốn sách Quản trị nguồn nhân lực của tác giả Trần Kim Dung (2006) giới thiệu một cách hệ thống kiến thức, tư tưởng và kỹ năng quản trị nguồn nhân lực và các nhóm chức năng quan trọng của quản trị nguồn nhân lực trong tô chức.
Tác giả đề xuất nhóm nguyên tắc cơ bản về công tác đảo tạo, bồi dưỡng đối tượng người lớn. Tác giả cho rằng quá trình đào tạo, bồi dưỡng và phát triển dù diễn ra ở đâu đều. là quá trình giảng dạy và học tập, do đó ở bắt kỳ hình thức nào cần lưu ý tuân thủ các nguyên tắc bồi dưỡng như: Kích thích người học; Cung cắp thông tin phản hồi: Tổ chức công tác đảo tạo bồi dưỡng; Nhắc lại đẻ giúp người học tiếp thu vả củng cố kiến thức. Các tác giả Hứa Trung Thắng - Lý Hồng (2004) biên soạn tập tài liệu Phương pháp quản lý hiệu quả nguồn nhân lực, phân tích mục tiêu, cách thức quản lý nguồn nhân lực và mục tiêu nâng cao năng lực quản lý chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức.
Tác giả cho rằng sự vận hành bình thường của bất cứ khâu nào trong quá trình khai thác phát triển, quản lý nguồn nhân lực đều liên quan mật thiết với hiệu quả quản lý tổ chức. Quản lý hiệu quả nguồn nhân lực được xem như hạt nhân của quá trình quản lý, tạo ra sự thành công của hoạt động quán lý. vấn để con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hi ác giả Phạm Minh Hạc (1996) đánh giá nguồn nhân lực là một trong những tid cơ bản của xã hội, trong đó, công tác đảo tạo nâng cao chất lượng và phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản. Muốn xây dựng nguồn lực con người đáp ứng công cuộc đổi mới thì hệ thống giáo dục phải thực hiện tốt nhiệm vụ đảo tạo, bồi dưỡng con người có năng lực trí tuệ và phẩm chất đạo đức phù hợp.
Do vậy, việc chăm sóc, bồi dưỡng. và phát triển nhân tố con người trở thành động lực tạo nên sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đắt nước. Ở lĩnh vực QLGD, nhiều tác giả nghiên cứu về QLGD: Tác giả Phạm Minh Hạc (1999, 1996) với tác phẩm Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI. Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tác giả Đặng Quốc Bảo (1997) với tập sách Một số khái niệm về QLGD, tác giả Trần Kiểm (2006) với cuốn sách Khoa học QLGD, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, tác giả Trần Khánh Đức (2009) với tác phẩm Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI.
Nội dung tác phẩm trên giới thiệu hệ thống khái niệm cơ bản về QLGD, chức năng QLGD, quản lý nhà trường, nội dung và phương pháp quản lý nhà trường. Tác giả Vũ Quốc Chung, Nguyễn Văn Cường (2011) trong công trình nghiên cứu vấn đề cải cách đào tạo và bồi dưỡng GV định hướng chuẩn và năng lực nghề nghiệp. trình bày quan điểm thực hiện cải cách đảo tạo và bồi dưỡng GV theo định hướng chuẩn và năng lực nghề nghiệp, giới thiệu, phát triển các mô hình, chương trình đảo tạo GV định hướng chuân và năng lực nghề nghiệp, trên cơ sở đó tổ chức công tác bồi dưỡng GV định hướng chuẩn và năng lực nghề nghiệp. Theo tác giả, hai mô hình cơ bản trong bồi dưỡng.
GV là chương trình bồi dưỡng theo khả năng cung cấp của cơ quan bồi dưỡng và chương trình bồi dưỡng định hướng nhu cầu người học; CNNGV tạo cơ sở cho việc đổi mới công tác bồi dưỡng GV. Việc đánh giá GV theo chuẩn cung cấp thông tin về những điểm mạnh và điểm yếu của GV, từ đó hỗ trợ GV và cơ quan quản lý định hướng nhu cầu bồi dưỡng theo cá nhân. Điều này giúp tăng cường sử dụng mô hình 10 bồi dưỡng GV định hướng nhu cầu người học, góp phần phát huy hiệu quả và tính thiết thực của công tác bồi dưỡng GV. Tác giả Nguyễn Thị Quy (2008) nghiên cứu Các giải pháp bồi dưỡng dé nâng cao chất lượng GV TH đồng bằng sông Cửu Long, đã đề xuất một số giải pháp bồi dưỡng GV thông qua những công việc cụ thể trong giảng dạy.
Đây là các giải pháp cần thiết trong việc bồi dưỡng GV TH nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường TH khu vực đồng bằng sông Cửu Long.