Chương 1: Cơ sở lý luận của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động tại Kho bạc nhà nước Tuyên Quang. - Chương 2: Thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tại KBNN Tuyên Quang. - Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tại Kho bạc nhà nước Tuyên Quang. 4 KBNN TUYÊN QUANG 1.
Công nghệ thông tin được hình thành từ khoa học máy tính, đây là một khái niệm khá rộng, nó bao hàm nhiều khái niệm khác nhau ở bên trong (phần mềm máy tính, hệ thống thông tin, phần cứng máy tính, ngôn ngữ lập trình…). CNTT ra đời với tư cách là một ngành khoa học ứng dụng hiện đại, phát triển qua nhiều thời kỳ với các quá trình từ khoa học máy tính đến Tin học và CNTT. Theo nghĩa rộng và tổng quát nhất CNTT là việc sử dụng công nghệ hiện đại vào việc tạo ra, lưu trữ, truyền dẫn thông tin, xử lý, khai thác thông tin. CNTT gồm tất cả các nhóm ngành công nghệ (sử dụng hệ thống máy tính, phần mềm, và mạng lưới Internet) được sử dụng cho việc xử lý và phân phối dữ liệu, lưu trữ, thu thập, trao đổi và sử dụng thông tin dưới tất cả các hình thức dữ liệu.
Ở Việt Nam, CNTT được thể chế hóa từ Nghị quyết số 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 về "Phát triển CNTT ở Việt Nam trong những năm 90", và luật hóa thành văn bản Luật vào năm 2006. Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH”, là cơ sở cho sự ra đời của Luật Công nghệ thông tin, được Quốc Hội thông qua ngày 29/6/2006 theo Nghị quyết số 67/2006/QH11- cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT của đất nước. Theo Luật Công nghệ thông tin thì “ Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số ”. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, CNTT được hiểu theo khái niệm CNTT của Luật Công nghệ thông tin năm 2006.
Đặc điểm của công nghệ thông tin 1. Ngành công nghệ mũi nhọn CNTT là ngành được xây dựng dựa trên thành quả của nhiều ngành công nghệ khác và những lý thuyết khoa học hiện đại. Có hàm lượng tri thức cao là một trong những đặc điểm của ngành công nghệ mũi nhọn. Do đó CNTT đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao, ứng dụng cần phải thực hiện từng bước phù hợp với lợi thế riêng.
Phát triển CNTT không chỉ là động lực cho riêng các doanh nghiệp trong ngành, mà còn là lực đẩy cho toàn nền kinh tế, giúp các lĩnh vực, ngành nghề khác trong xã hội hiện đại hóa, phát triển mạnh. Chính vì vậy mà CNTT và truyền thông đã trở thành một công cụ, một nền tảng cho phương thức lao động mới của toàn bộ xã hội, thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực, khía cạnh của đời sống. Ngành có tốc độ phát triển cao CNTT bắt đầu xuất hiện từ thập niên 1970, tuy nhiên đến thập niên 1990 ngành CNTT mới thật sự phát triển và phát triển tốc độ rất cao. Những tiến bộ về công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin diễn tiến liên tục, có thể tính từng giây.
Thế giới ghi nhận từ thập niên 1990 đến nay, tốc độ phát triển trung bình hàng năm của ngành duy trì từ 8%-10% và cao gấp 1,5 lần sự phát triển kinh tế của thế giới (Research Report of Shanghai Research Center, 2004). Tại Diễn đàn Cấp cao Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam 2013, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Hơn 10 năm qua, CNTT đã trở thành ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp trực tiếp gần 7% GDP, và là một lợi thế phát triển đặc biệt của Việt Nam”. Vòng đời sản phẩm ngắn Bắt nguồn từ sự phát triển với tốc độ cao, sản phẩm CNTT thường có vòng đời rất ngắn. Theo Hiệp hội Nghiên cứu Máy tính của Mỹ (Computing Research Association – CRA, 1999), vòng đời của sản phẩm CNTT thường chỉ có 2 năm và tối đa là 4 năm thì các sản phẩm CNTT đã bị xem là lạc hậu.
Vì vậy 6 đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, khi đầu tư hay định hướng các giải pháp công nghệ cần lưu ý đến đặc điểm này của CNTT để tránh lãng phí, làm ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Tính tích hợp cao Ngày nay CNTT đã thâm nhập và tích hợp vào sâu trong các ngành khác như cơ khí, sản xuất ô tô, năng lượng, giao thông, dệt, luyện kim, điện tử… làm cho các ngành này nhanh chóng phát triển. Mạng viễn thông, mạng truyền hình và mạng máy tính đã dần tích hợp vào nhau, chia sẽ thông tin, tài nguyên của nhau và giúp cho các nước trên thế giới xích lại gần nhau hơn. Với khả năng số hóa thông tin, xử lý và tái tạo thông tin, CNTT trở thành một công cụ, một nền tảng cho phương tiện lao động mới được sử dụng cho các ngành công nghệ khác.
CNTT có thể tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất của các lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ …, cũng có thể tham gia vào quá trình quản lý, điều hành. Bên cạnh đó CNTT cũng tạo ra nhiều ngành kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện tại và tăng khả năng cạnh tranh của các ngành. Chi phí nghiên cứu và phát triển ngành cao CNTT là ngành công nghệ cao, có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành và hiện đại hóa nhiều ngành sản xuất, dịch vụ; cấu trúc của ngành có nhiều tầng lớp, lớp trên được xây dựng dựa trên các lớp dưới… nên mỗi thay đổi, cải tiến công nghệ đều kéo theo nhiều sự thay đổi trên các lĩnh vực. Mặc dù là ngành thường xuyên phát minh và cải tiến nhưng chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển của ngành lại rất cao.
CNTT và truyền thông đã và đang làm thay đổi thế giới. Những rào cản được gỡ bỏ cùng với những tiến bộ vượt bậc của cách mạng số đang làm cho thế 7 giới "phẳng ra" và không còn nhiều trở ngại về địa lý như trước. Trong một thời gian tương đối ngắn CNTT và truyền thông đã tạo ra những biến đổi về văn hóa - xã hội sâu sắc ở mọi ngõ ngách của trái đất nơi chúng ta đang sống, đem lại cho con người những cơ hội để có một cuộc sống thuận tiện hơn và thách thức cũng lớn hơn. Điều này mở ra cho các quốc gia những phương thức sản xuất kinh doanh, những vị thế chính trị và kinh tế hoàn toàn mới CNTT và truyền thông ảnh hưởng tới hầu hết mọi ngành còn lại, không chỉ giúp giải quyết lượng thông tin khổng lồ một cách nhanh chóng, tạo ra nhiều loại hình công việc mới mà còn tạo một bước ngoặt mới cho sự phát triển của xã hội, kéo theo sự phát triển của nền văn minh nhân loại.
Vai trò của CNTT trên thế giới ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng, nó tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; trong những thập niên gần đây với sự phát triển của CNTT đã làm cho thế giới thay đổi từng ngày. Trong phần này luận văn chỉ đề cập đến vai trò của CNTT với một số vấn đề có liên quan như sau: 1. Vai trò của công nghệ thông tin đối với kinh tế, văn hóa và xã hội CNTT đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Nó chính là nhân tố giúp kết nối và trao đổi giữa các thành phần của xã hội toàn cầu.
Sự phát triển của CNTT, trước hết đã làm thay đổi phương thức tổ chức hoạt động kinh tế, sau đó tác động đến hoạt động của các khu vực khác trong nền kinh tế như: khu vực chế tạo, chế biến và dịch vụ, quản lý nhà nước …. CNTT không chỉ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, mà còn kéo theo sự biến đổi trong phương thức sáng tạo của cải, trong lối sống và tư duy của con người. Sự kết hợp giữa CNTT, công nghệ viễn thông và công nghệ Internet đã trở thành công cụ đắc dụng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Môi trường trao đổi thông tin đa truyền thông đa phương tiện do sự kết hợp đó đã xóa bỏ các rào cản về mặt vật lý, địa lý; biến đổi cách thức giao tiếp đến cách sử dụng thông tin, biến đổi 8 bản chất thương mại, bản chất của công việc và thay đổi cách thức chăm sóc y tế và giáo dục.
CNTT là động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Không phải ngẫu nhiên ngày nay không nước phát triển giàu có nào lại nghèo về thông tin và cũng không có nước nào giàu về thông tin mà nghèo và kém phát triển cả. CNTT nhanh chóng thay đổi thế giới một cách mạnh mẽ, sự chuyển đổi này có vị thế trong lịch sử như một cuộc cách mạng kinh tế - xã hội và có ảnh hưởng to lớn đến đời sống con người. Con người đã biến Internet thành một công cụ hữu dụng.
Hàng tỉ người trên thế giới có thể truy cập Internet cùng một lúc, thực hiện giao dịch mua bán, gặp gỡ, trao đổi với bạn bè khắp thế giới và cập nhật thông tin bất kì thời gian nào. Mạng xã hội trở nên phổ biến hơn và ngày càng được giới trẻ quan tâm. Đối với y tế, việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và CNTT đã trở thành một hình thức phổ biến có tác dụng hỗ trợ kịp thời và thiết thực trong việc chữa bệnh cho nhân dân. Ví dụ, hiện nay đã dùng công nghệ siêu âm 3D (ba chiều), hoặc các bác sĩ có thể hội chẩn từ xa (thậm chí từ nhiều nước khác nhau trên thế giới).
Sử dụng CNTT để hỗ trợ về mặt kỹ thuật và phương pháp điều trị cho những vùng xa trung tâm y tế đã mang lại giá trị to lớn về mặt tinh thần cũng như vật chất cho nhân dân.