CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ BLOCKCHAIN TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC THƯ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (LC) 1. Tổng quan phương thức thanh toán bằng thư tín dụng chứng từ (LC) 1. Khái niệm phương thức thanh toán bằng thư tín dụng chứng từ Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng chứng từ trước hết là phương thức thanh toán được áp dụng phổ biến trong hoạt động TTQT. Phương thức thanh toán gọi là “cách thức, là điều kiện, là quy trình được xác lập theo đó người có nghĩa vụ thanh toán ở tại một nước có thể chuyển tiền để thanh toán cho người hưởng lợi ở nước khác theo thỏa thuận giữa người có nghĩa vụ và người hưởng lợi” (Nguyễn Văn Tiến, 2008).
Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng chứng từ ngày càng được sử dụng rộng rãi và trở thành bộ phận không thể thiếu trong TTQT giữa các doanh nghiệp XNK ở các quốc gia khác nhau. Có rất nhiều cách hiểu và khái niệm về phương thức thanh toán này. “Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu đòi nợ do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này thực hiện việc xuất trình phù hợp” (Đinh Xuân Trình, 2011). Theo định nghĩa của UCP 600 2007 ICC, tín dụng chứng từ (có nghĩa là phương thức thanh toán tín dụng chứng từ) là: “Tín dụng là bất cứ một sự thỏa thuận nào, dù cho có được mô tả hoặc đặt tên như thế nào, là không thể hủy bỏ và theo đó là một sự cam kết rõ ràng của ngân hàng phát hành để thanh toán khi xuất trình phù hợp”.
Có thể thấy, phương thức thanh toán bằng thư tín dụng chứng từ có rất nhiều cách gọi tên bằng tiếng Anh và tiếng Việt như: Letter of Credit (viết tắt là LC), Credit, Documentary Credit (viết tắt là DC), Tín dụng thư, Thư tín dụng, Tín dụng chứng từ,…Trong ngoại thương, phương thức tín dụng chứng từ là thỏa thuận bằng văn bản giữa NHPH và người yêu cầu phát hành tín dụng, trong đó ngân hàng cam kết trả tiền cho người hưởng lợi LC. Nếu NHPH tiến hành thanh toán, chấp nhận 11 thanh toán cho người hưởng lợi thì cam kết trả tiền của NHPH là cam kết trực tiếp. Nhưng nếu NHPH ủy quyền cho ngân hàng khác tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán, hoặc ủy quyền cho ngân hàng khác thương lượng thanh toán thì cam kết của NHPH là cam kết trả tiền gián tiếp. Ngân hàng khác ở đây được quy định là các chi nhánh của một ngân hàng ở các nước khác nhau.
Cam kết có thể là cam kết trả tiền ngay, nếu tín dụng có giá trị thanh toán ngay; hoặc cam kết thanh toán về sau và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán về sau; chấp nhận hối phiếu (draft) do người thụ hưởng ký phát và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận. Đặc điểm thư tín dụng chứng từ Có nhiều cách hiểu và khái niệm về thư tín dụng chứng từ. Dưới đây là những khái niệm được sử dụng phổ biến hơn cả. “Thư tín dụng thương mại (Letter of Credit – LC) là một chứng thư (điện hoặc chứng chỉ), trong đó ngân hàng phát hành L/C sẽ cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nếu họ xuất trình phù hợp với các điều kiện và điều khoản của LC, với các điều khoản có thể áp dụng của UCP 6001 và các tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế 681 ICC2” (Đinh Xuân Trình, 2011).
“Thư tín dụng là một văn bản cam kết có điều kiện được Ngân hàng mở theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng), theo đó Ngân hàng thực hiện yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng) để: - Trả tiền hoặc uỷ quyền cho Ngân hàng khác trả tiền ngay theo lệnh của người thụ hưởng khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện của thư tín dụng; hoặc - Chấp nhận sẽ trả tiền hoặc uỷ quyền cho Ngân 1 Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, số 600, bản sửa đổi năm 2007 (The Uniform Custom and Practice for Document Credits ICC, 2007 Revision, No 600). 2 Phòng thương mại quốc tế, tên tiếng anh là: (The International chamber of commerce ICC), được thành lập ngày 24/10/1919. ICC là một tổ chức Quốc tế phi chính phủ, tập hợp những lực lượng kinh tế chủ yếu nhất của từng nước hội viên vào các ủy ban quốc gia. Mục đích và nhiệm vụ chính thức của ICC là: thông qua việc tác động tới tất cả các lĩnh vực của hoạt động kinh tế quốc tế bao gồm thương mại, công nghiệp, vận tải và tài chính nhằm cài thiện các điều kiện quan hệ kinh tế giữa các nước và giải quyết những vấn đề kinh tế quốc tế.
12 hàng khác trả tiền theo lệnh của người thụ hưởng vào một thời điểm nhất định trong tương lai khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện thanh toán của thư tín dụng. Đơn yêu cầu Letter of phát hành L/C Credit NK NHPH XK Sơ đồ 1.1: Khái niệm thư tín dụng chứng từ Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2008) Khái niệm về thư tín dụng tại Quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoàn toàn phù hợp với tinh thần của UCP, thậm chí, nó còn khá chi tiết và rõ ràng so với khái niệm trong UCP. Tuy nhiên, khái niệm này mới chỉ đề cập đến 2 hình thức thanh toán bằng thư tín dụng, đó là trả tiền ngay hoặc trả tiền vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Vẫn còn một hình thức thanh toán chưa được quy định đó là hình thức thanh toán bằng cách chấp nhận hối phiếu do người thụ hưởng ký phát nếu tín dụng có giá trị thanh toán bằng hối phiếu.
Trong thực tế, khi lựa chọn phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cho thương vụ của mình, người xuất khẩu và nhập khẩu thường gọi là “thanh toán bằng thư tín dụng” do tín dụng chứng từ là loại tín dụng do ngân hàng mở cho người nhập khẩu, còn thư tín dụng là loại văn bản thể hiện loại tín dụng đó và là sự cam kết của ngân hàng với người xuất khẩu. Vì vậy, thư tín dụng là một công cụ quan trọng của phương thức tín dụng chứng từ. Các loại LC thương mại thường thấy trong thanh toán quốc tế bao gồm: - Thư tín dụng không thể hủy bỏ (Irrevocable LC) - Thư tín dụng có thể hủy bỏ (Revocable LC) - Thư tín dụng xác nhận (Confirmed LC) 13 - Thư tín dụng miễn truy đòi (Irrevocable without recourse LC) - Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable LC) - Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving LC) - Thư tín dụng giáp lưng (Back to back LC) - Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal LC) - Thư tín dụng thanh toán dần về sau (Deferred payment LC) - Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red clause LC) 1. Đặc điểm các bên tham gia Xét trong danh mục các phương thức thanh toán quốc tế hiện nay, LC được đánh giá là phương thức thanh toán phức tạp nhất do có nhiều bên tham gia.
Trong đó, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và ngân hàng là hai nhóm chủ thể chủ chốt, trực tiếp tham gia giao dịch. Bên cạnh đó, còn có một số doanh nghiệp hỗ trợ liên quan tới giao dịch này.1: Danh sách các bên tham gia LC Bên Cụ thể Vai trò tham gia Căn cứ vào HĐTM ,làm đơn đề nghị mở LC cho NXK Người đề nghị hưởng, gửi tới ngân hàng phục vụ mình và tiến hành ký mở LC Doanh quỹ. nghiệp Lập BCT phù hợp với LC, xuất trình tại NH của mình và Người yêu cầu ngân hàng này tiến hành đòi tiền ngân hàng phát thụ hưởng hành Ngân hàng Căn cứ vào đơn yêu cầu mở tín dụng, nếu đáp ứng đầu phát hành đủ yêu cầu sẽ phát hành thư tín dụng Ngân Ngân hàng Thông báo và chuyển giao LC gốc cho NTH hàng thông báo Ngân hàng Có chức năng xác nhận hoặc hoặc được NHPH chỉ định được chỉ định để thanh toán LC 14 Bên Cụ thể Vai trò tham gia Ngân hàng Được ủy quyền nhằm thực hiện hoàn trả giá trị BCT cho hoàn trả NH được NHPH chỉ định ICC Phòng thương mại quốc tế SWIFT Môi trường truyền điện thanh toán liên ngân hàng Giám sát hoạt động xuất nhập khẩu, thực hiện thủ tục Hải quan thông quan cho hàng hóa bằng việc cấp tờ khai hải quan Thực hiện vận chuyển hàng hóa và cung cấp các chứng Công ty vận tải từ vận tải, giao nhận hàng hóa Bên Công ty Cam kết bảo hiểm cho hàng hóa, xuất chứng từ bảo hiểm liên quan bảo hiểm Cơ quan kiểm Kiểm tra chất lượng, số lượng hàng hóa và cung cấp định chứng từ chứng minh Công ty chuyển Vận chuyển các chứng từ nội địa và quốc tế phát nhanh Chính phủ, ngân Ban hành các quy định pháp lý để quản lý, giám sát hàng Trung ương Nguồn: Tác giả tổng hợp 1. Đặc điểm quy trình LC So với các phương thức thanh toán chủ yếu được áp dụng trong hoạt động ngoại thương khác như chuyển tiền, nhờ thu,…thì phương thức thanh toán bằng thư tín dụng được sử dụng phổ biến nhất (Võ Thanh Thu, 2008).
Dù vậy, không thể phủ nhận một điều rằng đây là phương thức có quy trình kỹ thuật nghiệp vụ phức tạp nhất hiện nay. Thư tín dụng được thành lập trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu nhằm mục đích thanh toán tiền hàng cho số hàng người xuất khẩu đã giao cho người nhập khẩu theo hợp đồng mua bán hàng hóa đã ký kết. Nhưng sau khi được mở nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán hay bất kỳ một hợp đồng nào khác làm cơ sở cho thư tín dụng.1: Quy trình giao dịch LC Nguồn: Tác giả tổng hợp Một quy trình thanh toán tín dụng chứng từ bắt đầu từ việc người yêu cầu mở LC làm đơn đề nghị ngân hàng phát hành LC cho người thụ hưởng, sau khi LC được mở ngân hàng phát hành sẽ chuyển LC đến ngân hàng thông báo. Tại đây, ngân hàng thông báo sẽ xác minh tính chân thực của LC và thông báo cho người thụ hưởng.