CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ƯỚC BASEL VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về Hiệp ước Basel 1. Sự hình thành và hoạt động của Ủy ban Basel Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision – BCBS) là Ủy ban của các cơ quan giám sát ngân hàng được các thống đốc ngân hàng trung ương của nhóm 10 nước phát triển (G10) thành lập vào cuối năm 1974 tại Thành phố Basel – Thụy Sỹ, xuất phát từ cuộc khủng hoảng về thị trường tiền tệ quốc tế và thị trường ngân hàng (đặc biệt là sự sụp đổ của ngân hàng Bankhaus Herstatt ở Tây Đức). Cuộc họp đầu tiên diễn ra vào tháng 2/1975 và về sau được tổ chức đều đặn 3 hoặc 4 lần/năm.
Ủy ban thường họp tại Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) tại Thành phố Basel, nơi Ban thư ký thường trực đóng trụ sở. Ủy ban này hiện có 27 nước thành viên, gồm: Argentina, Úc, Bỉ, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Luxembourg, Mexico, Hà Lan, Nga, Saudi Arabia, Singapore, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ. Trong Ủy ban còn có 25 nhóm kỹ thuật và một số bộ phận khác được nhóm họp thường xuyên để thực hiện các nội dung công việc của Ủy ban. Hội đồng thư ký của Ủy ban Basel gồm 15 thành viên là những nhà giám sát hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp được biệt phái tạm thời từ các TCTD tài chính thành viên.
Ủy ban Basel và các tiểu ban sẵn sàng đưa ra những tư vấn cho các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng ở tất cả các nước. Ủy ban Basel không có cơ quan nào giám sát và những kết luận không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngân hàng. Ủy ban này chỉ xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất với kỳ vọng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng thông qua những điều chỉnh phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia của họ. Tháng 7/1988, Ủy ban đã giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord hay Basel I, còn gọi là Balse I), có hiệu lực từ năm 1992.
Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -2- tiêu chuẩn vốn tối thiểu là 8%. Đến năm 1996, Basel I được sửa đổi với rất nhiều điểm mới. Tuy vậy, Hiệp ước vẫn có khá nhiều điểm hạn chế. Vào năm 1997, Ủy ban Basel đã xây dựng“Các nguyên tắc nòng cốt cho việc giám sát hoạt động ngân hàng hiệu quả”.
Tháng 10/1999, Ủy ban đã phát triển “Phương pháp luận các nguyên lý nòng cốt”- một sự tổng kết các nguyên lý nòng cốt và phương pháp luận hay còn gọi là Bộ 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng. Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 06/1999, Ủy ban Basel đã ban hành đề xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính: (1) yêu cầu vốn tối thiểu; (2) giám sát; và (3) kỷ luật thị trường để nâng cao tính ổn định trong hệ thống tài chính. Sau những thử nghiệm rộng rãi, Basel II được ban hành vào ngày 26/06/2004, làm cơ sở cho việc xây dựng quy định về giám sát hoạt động ngân hàng và các ngân hàng chuẩn bị cho việc thực hiện các tiêu chuẩn mới. Tháng 01/2007, Hiệp ước Basel II có hiệu lực và đến 2010 chấm dứt quá trình chuyển đổi.
[20] Nhằm ngăn chặn sự tái diễn khủng hoảng tài chính, ngày 12/09/2010, Uỷ ban Basel đã nhóm họp tại Basel và đã chính thức đồng ý về chuẩn Basel III với những quy định nghiêm ngặt hơn về vốn và ấn định thời hạn để các ngân hàng thực hiện những quy định này. Basel III được đề xuất tháng 12/2009, và được sửa đổi tháng 7/2010. * Lịch sử ngắn gọn của Hiệp ước vốn Basel • Năm 1974, BCBS được thành lập từ nhóm G10 Ngân hàng Trung ương. • Năm 1988, Hiệp ước vốn Basel đầu tiên (Basel I) ra đời và có hiệu lực từ 1992.
• Năm 1996, được sửa đổi bổ sung thêm rủi ro thị trường (có hiệu lực từ 1997). • Tháng 6/1999, đề xuất một khung mới – chương trình tư vấn lần thứ nhất (First Consultative Package – CP1). • Tháng 1/2001, chương trình tư vấn lần thứ hai (CP2). • Tháng 4/2003, chương trình tư vấn lần thứ ba (CP3).
• Quý 4/2003, phiên bản hoàn thiện của Hiệp ước Basel mới. • Tháng 1/2007, Hiệp ước vốn Basel mới (Basel II) có hiệu lực. • Năm 2010, chấm dứt quá trình chuyển đổi. [12] • Tháng 9/2010, ban hành Hiệp ước Basel III, thời gian chuyển đổi từ 2013.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những điểm cơ bản của Hiệp ước Basel I. Hiệp ước vốn Basel I được ban hành vào tháng 7/1988. Mục đích của Basel I: Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế; Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng hoạt động quốc tế.
Tiêu chuẩn 1: Tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro Tỷ lệ vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio - CAR) do Ủy ban Basel đề xuất. Đối tượng ban đầu là những ngân hàng hoạt động quốc tế, nhưng sau này đã được thực thi trên hơn 100 quốc gia. Theo tiêu chuẩn này, ngân hàng phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8% tài sản có trọng số rủi ro. Tổng vốn CAR = ≥ 8% (1.1) [7] Tài sản có trọng số rủi ro (RWA) Tiêu chuẩn này quy định 05 định mức về vốn như sau: - Mức vốn tốt : CAR > 10% - Mức vốn thích hợp : CAR > 8% - Thiếu vốn : CAR < 8% - Thiếu vốn rõ rệt : CAR < 6% - Thiếu vốn trầm trọng : CAR < 2% 1.
Tiêu chuẩn 2: Vốn cấp 1 (tier 1), cấp 2 (tier 2) và cấp 3 (tier 3) Hiệp ước Basel I đã đưa ra định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn và tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng. Đến năm 1996, Basel được sửa đổi bổ sung thêm rủi ro thị trường, khi đó tiêu chuẩn về vốn của ngân hàng quy định: Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3 (1.2) [7] * Vốn cấp 1 (Vốn nòng cốt): Bao gồm vốn cổ phần thường / cổ phần ưu đãi, và các khoản dự trữ được công bố. * Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung), gồm: Lợi nhuận giữ lại không công bố; Dự phòng đánh giá lại tài sản; Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; Các công cụ nợ có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu; Nợ thứ cấp có kỳ hạn. * Vốn cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn Tổng vốn cấp 1 và cấp 2 chính là vốn tự có hay vốn cơ bản của TCTD.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- * Giới hạn về vốn: Tổng vốn cấp 2 không được quá 100% vốn cấp 1; Nợ thứ cấp có kỳ hạn tối đa bằng 50% vốn cấp 1; Dự phòng chung tối đa bằng 1,25% tài sản có rủi ro; Dự trữ đánh giá lại tài sản được chiết khấu 55%. Tiêu chuẩn 3: Tài sản có trọng số rủi ro (RWA) RWA = ∑(Tài sản x Hệ số rủi ro trong bảng cân đối kế toán) + ∑(Nợ tương đương x Hệ số rủi ro ngoài bảng cân đối kế toán) (1.3) [7] Tùy theo mỗi loại tài sản sẽ được gắn cho một trọng số rủi ro. Theo Basel I, trọng số rủi ro của tài sản được chia thành 4 mức là 0%, 20%, 50% và 100% theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản. Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi loại này (Phụ lục 1 và Phụ lục 2).
Nói chung, Hiệp ước Basel I mang tính chất của một thỏa thuận quốc tế và các tiêu chuẩn về vốn tự có do BCBS đưa ra. Hiệp ước nhấn mạnh tầm quan trọng của tỷ lệ an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng. Ngoài ra, Hiệp ước còn xác định các hệ số rủi ro trong các loại rủi ro tín dụng, làm cơ sở, tiêu chuẩn để các ngân hàng của các quốc gia trên thế giới áp dụng, quản lý và đảm bảo an toàn trong hoạt động. Những thiếu sót của Basel I - Không phân biệt theo loại rủi ro.
+ Một khoản nợ đối với tổ chức xếp hạng AA được coi như một khoản nợ đối với tổ chức xếp hạng B. + Một khoản nợ cho một ngân hàng nhỏ chỉ cần một lượng vốn bằng một phần nhỏ so với khoản nợ cho một công ty lớn (xếp hạng AAA). Việc giữ các tài sản có độ rủi ro thấp ít sinh lợi hơn tài sản có độ rủi ro cao. - Không có lợi ích từ việc đa dạng hóa.
+ Một khoản nợ riêng lẻ yêu cầu một lượng vốn giống như một danh mục đầu tư được đa dạng hóa, với cùng một giá trị. + Không có sự khác biệt nào giữa một khoản vay $100 và 100 khoản vay $1. - “Cơ lợi” có tính hệ thống. - Không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro hoạt động - một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng lên.
[13] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bộ 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng (Phụ lục 3) Tháng 10/1999, Uỷ ban Basel giới thiệu bộ 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát hệ thống ngân hàng hiệu quả, bao hàm một số nhóm nội dung chủ yếu sau: - Nhóm nguyên tắc về điều kiện tiên quyết cho việc giám sát ngân hàng hiệu quả: Nguyên tắc 1; - Nhóm nguyên tắc về cấp phép và cơ cấu: từ Nguyên tắc 2 đến Nguyên tắc 5; - Nhóm nguyên tắc về các quy định và yêu cầu thận trọng: từ Nguyên tắc 6 đến 15; - Nhóm nguyên tắc về giám sát nghiệp vụ ngân hàng: từ Nguyên tắc 16 đến 20; - Nhóm nguyên tắc về yêu cầu về thông tin: Nguyên tắc 21; - Nhóm nguyên tắc về quyền hạn hợp pháp của chuyên gia giám sát: Nguyên tắc 22; - Nhóm nguyên tắc về ngân hàng xuyên biên giới: từ nguyên tắc 23 đến 25.