MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22-10-2018, về chiến lƣợc phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhín 2045 trong đó xác định Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vƣợng, an ninh và an toàn. Phát triển kinh tế biển gắn liền với việc bảo đảm an toàn cho hoạt động giao thông vận tải trong đó có giao thông hàng hải, giao thông thủy nội địa. Để làm đƣợc việc đó, hoạt động quản lý, giám sát tàu biển phải đƣợc tăng cƣờng nhằm bảo đảm an toàn hàng hải cho mỗi con tàu và đảm bảo lƣu thông thông suốt qua các tuyến vận tải.
Kinh tế càng phát triển, năng lực vận tải càng cần phải tăng cƣờng. Đi cùng với nó là việc tăng cƣờng số lƣợng phƣơng tiện tham gia giao thông đặc biệt là trên các tuyến vận tải nối với các trung tâm kinh tế. Số lƣợng phƣơng tiện gia tăng dẫn đến việc theo dõi, đánh giá nguy cơ đâm va, hƣớng dẫn di chuyển của các tàu thuyền nhằm đảm bảo an toàn càng trở nên khó khăn. Vấn đề này gây áp lực lớn đối với không chỉ các Điều hành viên VTS và Giám sát viên VTS, những ngƣời quản lý giao thông hàng hải mà còn với cả các hoa tiêu, các thuyền trƣởng đang tham gia giao thông trên các tuyến luồng.
Dƣới áp lực cao của công việc, rất dễ xảy ra các sai sót trong quản lý điều hành, trong việc phát hiện và đánh giá nguy cơ đâm va giữa các tàu thuyền, từ đó có thể dẫn đến các tai nạn hàng hải. Việc quản lý an toàn giao thông hàng hải đƣợc giao cho các cán bộ cảng vụ hàng hải. Ở những nơi có trạm VTS, công việc này đƣợc giao cho các Điều hành viên VTS và Giám sát viên VTS. Các cán bộ này thực thi hoạt động quản lý, điều tiết giao thông hàng hải trên các tuyến luồng ra vào các cảng biển đảm bảo an toàn hàng hải.
Trong thực thi các hoạt động này, những ngƣời này phải xác định đƣợc các nguy cơ xảy ra tai nạn đâm va, các tính huống giao thông phức 1 tạp có thể xảy ra giữa các tàu thuyền để triển khai các hoạt động điều tiết nhằm đảm bảo an toàn cho các phƣơng tiện, các tuyến luồng giao thông. Để điều tiết giao thông hàng hải, đa phần các Điều hành viên VTS và Giám sát viên VTS điều tiết giao thông cần thu thập thông tin giao thông sử dụng các thiết bị nhƣ radar, camera, AIS. Căn cứ các thông tin này, các quyết định hƣớng dẫn, điều tiết giao thông đƣợc đƣa ra nhằm đảm bảo an toàn cho giao thông hàng hải. Đây là một công việc có khối lƣợng rất lớn đặc biệt là ở những khu vực quản lý có mật độ tàu thuyền qua lại đông, nhiều giao cắt phức tạp.
Ngƣời sỹ quan điều tiết giao thông phải nắm đƣợc sự di chuyển không chỉ của các tàu thuyền với nhau mà còn sự di chuyển qua các điểm cần thiết trên các đoạn luồng, sự di chuyển qua các bãi cạn, khu vực neo và thậm chì cả tàu thuyền đang neo đậu có bị trôi dạt hay không cũng phải nằm trong tầm kiểm soát. Mặc dù một số nơi có trang bị trạm VTS với nhiều tình năng hỗ trợ trong việc theo dõi chuyển động của các mục tiêu nhƣng những tình năng này đòi hỏi phải thực hiện nhiều thao tác theo dõi, bám sát đồng thời cũng có nhiều mục tiêu không cung cấp thông tin về tuyến đƣờng hành trính. Tuy vậy, đối với các tuyến luồng cần quản lý dài, mật độ phƣơng tiện và giao cắt giao thông phức tạp, các vấn đề về phát hiện, xử lý thông tin giao thông sẽ càng phức tạp, gây áp lực rất lớn cho các sỹ quan quản lý giao thông. Từ đó, phát sinh nhu cầu cần có một công cụ hỗ trợ cho các sỹ quan quản lý và điều hành giao thông hàng hải nhằm đảm bảo hoạt động giao thông đƣợc diễn ra thông suốt.
Đối với các công cụ hỗ trợ hoạt động quản lý giao thông hàng hải, nhƣ đã đề cập ở trên, các thiết bị đánh giá nguy cơ mất an toàn hàng hải đều đã có. Ngƣời sỹ quan quản lý giao thông hàng hải có thể sử dụng các trang thiết bị nhƣ hệ thống radar, AIS, camera, hải đồ điện tử hoặc thậm chì hệ thống VTS hoàn chỉnh để theo dõi, giám sát và điều tiết giao thông. Mặc dù vậy, khi cần dữ liệu của phƣơng tiện nào, đánh giá các nguy cơ đối với phƣơng tiện đó thí đòi hỏi phải tƣơng tác với từng phƣơng tiện đó. Thƣờng thí chỉ có thể theo dõi đồng thời 2 mục tiêu, muốn thêm thông tin khác thí phải chuyển sang mục tiêu khác.
Một 2 số chức năng tự động báo động lệch đƣờng, báo động qua điểm, báo động đi vào vùng nguy hiểm của hệ thống VTS có thể làm giảm đi áp lực công việc của ngƣời sỹ quan nhƣng không có khả năng theo dõi đồng thời toàn vùng, toàn bộ các tính huống giao thông để từ đó đƣa ra các cảnh báo sớm cho phƣơng tiện. Chình ví thế, cần thiết có một công cụ nào đó có thể hỗ trợ ngƣời vận hành quản lý, nắm bắt tính hính giao thông trên toàn tuyến luồng và đƣa ra khuyến cáo, báo động với ngƣời điều hành, giúp giảm tải công việc đồng thời đảm bảo an toàn khai thác tuyến luồng giao thông. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các ứng dụng của trì tuệ nhân tạo có thể đƣa vào để xử lý các bài toán giao thông này. Các tính huống giao thông đặc biệt sẽ đƣợc phân tìch, định nghĩa để đƣa vào cho hệ thống tự học, từ thực tiễn học tập của máy sẽ đƣa ra các phƣơng án đánh giá tính huống giao thông, phƣơng án xử lý giao thông tối ƣu trong thực tiễn.
Kết quả học tập liên tục sẽ đƣợc sử dụng làm cơ sở để khuyến cáo cho ngƣời sỹ quan trong công tác điều hành, quản lý giao thông đảm bảo an toàn. Thông thƣờng, thông tin của các tàu thuyền do VTS hay các tàu thuyền khác thu thập đƣợc gắn liền với thông tin về vị trì của các tàu thuyền trong khu vực kiểm soát, thông tin về hệ thống luồng lạch tại khu vực và 1 số thông tin về điều kiện khì tƣợng thủy văn khác. Nhƣ vậy, đánh giá nguy cơ đâm va ở các tuyến luồng khác nhau sẽ khác nhau. Do vậy, cần lựa chọn khu vực để triển khai nghiên cứu cho phù hợp vừa đảm bảo tình cấp thiết mà thực tiễn đòi hỏi vừa có thể đƣợc sử dụng cho các khu vực khác sau này.
Thành phố Hồ Chì Minh là đầu tàu kinh tế của cả nƣớc, Cục Thống kê Thành phố Hồ Chì Minh cho biết tổng sản phẩm trên địa bàn GRDP của thành phố năm 2023 ƣớc đạt 1.191 tỷ đồng, tăng 5,81% so với cùng kỳ năm 2022. Để có đƣợc kết quả nêu trên, có một phần không nhỏ là có sự đóng góp của giao thông vận tải biển, vận tải thủy trên tuyến luồng Vũng Tàu - Sài Gòn. Hơn thế nữa, tuyến luồng này còn phục vụ cho các hoạt động vận tải của các địa bàn lân cận. Trong 8 năm qua, số lƣợng tàu thuyền (bao gồm tàu biển, phƣơng tiện thủy 3 nội địa, tàu, phƣơng tiện pha sông biển) vào, rời khu vực vùng nƣớc cảng biển Thành phố Hồ Chì Minh nhƣ sau: Năm Tàu thuyền (lƣợt) GT DWT (tấn) Năm 2016 115.606 Với lƣợng hàng hóa thông qua cảng: Hàng container Hàng lỏng Năm Hàng khô (tấn) (TEU) (tấn) Năm 2016 5.580 (Nguồn: Cảng vụ Hàng hải Hồ Chí Minh) Số liệu thống kê cho thấy tầm quan trọng của tuyến luồng Sài Gòn – Vũng Tàu trong việc đảm bảo kết nối giao thông của đầu tàu kinh tế với các khu vực khác đồng thời cũng cho thấy rõ sự gia tăng áp lực trong đảm bảo an toàn hàng hải trên tuyến luồng này.
Ngoài ra, tuyến luồng Vũng Tàu - Sài Gòn là một tuyến luồng dài, địa hính giao thông phức tạp, kết quả nghiên cứu với tuyến đƣờng này sẽ có nhiều khả năng áp dụng cho các tuyến luồng khác. 4 Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, nghiên cứu sinh đề xuất nghiên cứu thực hiện đề tài: Nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong quản lý giao thông hàng hải trên tuyến luồng Vũng Tàu - Sài Gòn. Mục đích nghiên cứu của luận án Luận án đƣợc thực hiện nhằm mục đìch sau đây: - Nghiên cứu phƣơng pháp đánh giá nguy cơ đâm va trên vùng biển rộng và trên luồng lạch hẹp; - Xây dựng cơ sở dữ liệu đánh giá nguy cơ đâm va giữa các tàu thuyền trên tuyến luồng Vũng Tàu - Sài Gòn; - Ứng dụng AI trong đánh giá nguy cơ đâm va giữa các tàu thuyền trên tuyến luồng Vũng Tàu - Sài Gòn. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án Để đạt đƣợc mục đìch của luận án, tập trung nghiên cứu các đối tƣợng sau: - Các tính huống giao thông hàng hải và các nguy cơ dẫn đến hoặc đƣợc đánh giá là có thể dẫn đến tai nạn hàng hải; - Đánh giá của hoa tiêu dẫn tàu đối với các tính huống, chỉ số mà căn cứ vào đó hoa tiêu xác định tồn tại nguy cơ đâm va giữa các tàu thuyền chạy trên tuyến luồng Vũng Tàu - Sài Gòn; - Hoạt động điều tiết giao thông của sỹ quan hàng hải tại Việt Nam.
Để triển khai các hoạt động nghiên cứu, đề tài tập trung triển khai nghiên cứu các đối tƣợng liên quan đến trạm VTS của Việt Nam do Cảng vụ Hàng hải Thành phố Hồ Chì Minh quản lý. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án Nghiên cứu sinh sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau đây: - Phƣơng pháp phân tìch số liệu để đánh giá các tính huống giao thông; - Phƣơng pháp chuyên gia phục vụ nghiên cứu đánh giá các tính huống mất an toàn giao thông, phƣơng pháp đánh giá nguy cơ mất an toàn và xử lý các tính huống giao thông; 5 - Phƣơng pháp thực nghiệm học máy với cơ sở dữ liệu tính huống giao thông nhằm đánh giá nguy cơ đâm va giữa các tàu thuyền đang hành trính trên tuyến luồng Vũng Tàu - Sài Gòn; tự động phát hiện nguy cơ đâm va và cảnh báo cho hoạt động quản lý giao thông hàng hải. Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của luận án Đề tài hoàn thành sẽ xây dựng nên cơ sở lý thuyết nhận diện đƣợc các tính huống xảy ra các nguy cơ tai nạn đâm va giữa các tàu thuyền trong hàng hải.