Nghiên cứu tỷ lệ áp dụng biện pháp tránh thai sau sinh tại Bệnh viện Từ Dũ

Báo cáo nghiên cứu tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai sau sinh và các yếu tố liên quan. Khảo sát thực tế trên 386 phụ nữ tại Bệnh viện Từ Dũ.

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

61
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Định nghĩa và tầm quan trọng của tránh thai sau sinh

Tránh thai sau sinh là việc áp dụng các biện pháp ngừa thai trong giai đoạn hậu sản, đặc biệt từ 2-6 tháng sau khi sinh con. Đây là một vấn đề y tế công cộng vô cùng quan trọng, giúp giãn cách các lần sinh, bảo vệ sức khỏe mẹ và trẻ em. Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Từ Dũ, tỷ lệ phụ nữ áp dụng các biện pháp tránh thai sau sinh từ 2-6 tháng đạt 38,6%, cho thấy vẫn còn nhiều phụ nữ chưa sử dụng các phương pháp ngừa thai trong giai đoạn này. Việc nâng cao nhận thức và cung cấp kiến thức về các biện pháp tránh thai hậu sản là cần thiết để cải thiện sức khỏe sinh sản của phụ nữ Việt Nam.

1.1. Khái niệm tránh thai sau sinh

Tránh thai sau sinh hay ngừa thai hậu sản là quá trình áp dụng các phương pháp, dụng cụ hoặc thuốc để ngăn ngừa thai nghén trong thời kỳ sau khi sinh con. Giai đoạn này bắt đầu từ lúc sinh con và kéo dài đến khi phụ nữ trở lại kinh nguyệt bình thường. Đây là thời kỳ vô cùng quan trọng vì cơ thể phụ nữ vẫn đang hồi phục, đặc biệt nếu đang cho con bú.

1.2. Ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp tránh thai hậu sản

Áp dụng các biện pháp tránh thai sau sinh giúp giãn cách thời gian giữa các lần mang thai, cho phép cơ thể phụ nữ hồi phục đầy đủ. Điều này giảm nguy cơ biến chứng sản khoa, cải thiện sức khỏe của mẹ và tăng cường chăm sóc cho trẻ sơ sinh hiện tại. Ngoài ra, nó còn hỗ trợ kế hoạch hóa gia đình và cải thiện chất lượng cuộc sống của các gia đình.

II. Sinh lý thời kỳ hậu sản và khả năng sinh sản

Thời kỳ hậu sản là giai đoạn phục hồi của cơ thể phụ nữ sau khi sinh con, kéo dài khoảng 6-8 tuần. Trong giai đoạn này, sinh lý thời kỳ hậu sản có những thay đổi đáng kể về nội tiết tố, đặc biệt là ở những phụ nữ cho con bú. Nghiên cứu cho thấy kinh nguyệt sau sinh trở lại sau thời gian khác nhau tùy vào việc cho con bú. Các yếu tố như tuổi con, cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ ảnh hưởng đến thời điểm khôi phục khả năng sinh sản. Mặc dù vậy, phụ nữ có thể mang thai trước khi kinh nguyệt trở lại, vì vậy việc áp dụng biện pháp tránh thai từ sớm là cần thiết.

2.1. Những thay đổi cơ thể sau sinh

Sau khi sinh con, cơ thể phụ nữ trải qua các thay đổi lớn bao gồm: tử cung co lại, vết mổ hoặc vết xước liên quan đến sinh con lành lặn, nội tiết tố giảm mạnh. Những phụ nữ cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ sẽ có sự thay đổi nội tiết tố khác biệt, ảnh hưởng đến thời gian khôi phục kinh nguyệt. Đây là lý do tại sao kinh nguyệt sau sinh có thể trở lại muộn hơn ở những phụ nữ cho con bú so với không cho con bú.

2.2. Vô kinh tạm thời và khôi phục khả năng sinh sản

Vô kinh tạm thời sau sinh là hiện tượng phụ nữ không có kinh nguyệt trong thời gian sau sinh. Thời gian này thường kéo dài từ 2-12 tháng hoặc lâu hơn nếu cho con bú. Tuy nhiên, phụ nữ có thể mang thai trước khi kinh nguyệt trở lại, đặc biệt sau kỳ rụng trứng đầu tiên. Do đó, việc sử dụng các biện pháp tránh thai hậu sản ngay từ khi có hoạt động quan hệ tình dục là vô cùng quan trọng.

III. Các biện pháp tránh thai sau sinh phổ biến

Có nhiều biện pháp tránh thai khác nhau phù hợp với thời kỳ hậu sản, mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng. Các biện pháp tránh thai sau sinh bao gồm: dụng cụ tử cung (DCTC), thuốc tránh thai hàng ngày, bao cao su, và phương pháp vô kinh cho con bú (LAM). Theo nghiên cứu, tỷ lệ phụ nữ áp dụng các biện pháp tránh thai sau sinh 38,6% cho thấy cần có thêm giáo dục và hướng dẫn. Việc chọn biện pháp tránh thai phù hợp phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, nhu cầu cá nhân và hoạt động quan hệ tình dục của từng phụ nữ.

3.1. Dụng cụ tử cung và thuốc tránh thai

Dụng cụ tử cung (DCTC) là một trong những biện pháp tránh thai hiệu quả cao, có thể đặt ngay từ 10-14 ngày sau sinh. Thuốc tránh thai như thuốc viên kết hợp hoặc thuốc chỉ chứa progestin cũng là lựa chọn tốt cho phụ nữ cho con bú. Những biện pháp tránh thai này an toàn và có hiệu quả cao nếu sử dụng đúng cách.

3.2. Phương pháp tự nhiên và bao cao su

Phương pháp vô kinh cho con bú (LAM) là phương pháp tự nhiên dựa trên cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ, có hiệu quả 98% trong 6 tháng đầu. Bao cao subiện pháp tránh thai đơn giản, an toàn và không ảnh hưởng đến sữa mẹ, phù hợp cho những phụ nữ muốn chọn phương pháp không xâm lấn.

IV. Các yếu tố liên quan đến việc áp dụng tránh thai sau sinh

Nghiên cứu tại Bệnh viện Từ Dũ đã phân tích các yếu tố liên quan đến tỷ lệ phụ nữ áp dụng các biện pháp tránh thai sau sinh. Kết quả cho thấy hoạt động quan hệ tình dục là yếu tố duy nhất có ý nghĩa thống kê (p<0,05) liên quan đến tình trạng sử dụng biện pháp tránh thai hậu sản. Các yếu tố khác như tuổi mẹ, nơi ở, nghe nghiệp, học vấn, cách sinh con lần trước, kinh nguyệt sau sinh không có liên quan có ý nghĩa. Điều này gợi ý rằng hoạt động quan hệ tình dục là điều kiện tiên quyết để phụ nữ sử dụng các biện pháp tránh thai.

4.1. Hoạt động quan hệ tình dục và tránh thai

Hoạt động quan hệ tình dục là yếu tố có ý nghĩa nhất liên quan đến việc sử dụng biện pháp tránh thai sau sinh. Phụ nữ có hoạt động quan hệ tình dục sẽ chủ động hơn trong việc áp dụng các biện pháp tránh thai hậu sản. Những phụ nữ này cần được tư vấn và hướng dẫn lựa chọn biện pháp tránh thai phù hợp nhất với tình trạng sức khỏe và nhu cầu của họ.

4.2. Các yếu tố không liên quan có ý nghĩa

Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi mẹ, tuổi sinh con lần đầu, nơi ở, nghe nghiệp, tôn giáo, học vấn, số con hiện tại và nhiều yếu tố khác không có liên quan có ý nghĩa đến tỷ lệ phụ nữ áp dụng biện pháp tránh thai sau sinh. Điều này cho thấy rằng giáo dục và truyền thông về các biện pháp tránh thai cần tiếp cận một cách rộng rãi, không phân biệt các nhóm xã hội khác nhau.

18/12/2025
Khảo sát tỷ lệ phụ nữ áp dụng biện pháp tránh thai sau sinh và các yếu tố liên quan tại bệnh viện từ dũ từ tháng 08 2017 đến 04 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TÓNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Định nghĩa tránh thai sau sinh Là việc dùng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) đề phòng tránh thai ngoài ý muốn trong giai đoạn sau khi sinh, thời gian của giai đoạn này có thê được qui định theo định nghĩa cùa y học là 6 tháng, theo định nghĩa về văn hóa là thời kỳ cách ly xã hội và kiêng quan hệ tình dục hoặc theo thời gian cho con bú 114].2 Sinh lý thòi kỳ hậu sản 1.1 Đặc điểm CO’ thể học của phụ nữ sau sinh 1.1 Thay đổi tử cung bình thường trong thòi kỳ hậu sản Tử cung giảm nhanh kích thước trong 10-14 ngày đầu sau sinh. Trong suốt quá trình này, các cơ quan trong cơ thế người mẹ, nhất là cơ quan sinh dục sẽ trớ về kích thước bình thường của nó. Có sự giảm tương ứng trọng lượng từ 1000g ngay sau sinh xuống 350g vào ngày 14 sau sinh. Sự co hồi hoàn toàn về kích thước khi không mang thai có thể chưa xảy ra và một số trường hợp có tăng tạm thời trọng lượng tứ cung sau một lần sinh [27], 1.2 Thay đối tử cung bất thường trong thòi kỳ hậu sản Có bốn biến chứng chính can thiệp vào quá trình hồi phục của tình trạng sức khoẻ sau sinh: xuất huyết, nhiễm trùng, tứ cung co hồi kém và huyết khối.

Xuất huyết hấu như xảy ra trước nhiễm trùng và tử cung co hồi kém. Cả hai biến chứng xuất huyết và nhiễm trùng hầu như xảy ra trước khi có chấn đoán tử cung không co hồi. Tử cung co hồi kém làm cho sản dịch kéo dài thậm chí viêm nội mạc tử cung. Huyết khối là một nguy cơ tiềm ần với tất cá thời kỳ hậu sán nhưng điều này sẽ giảm dần theo thời gian [27].

Ngoài những biến chứng trên, mố lấy thai còn có tai biến của vô cám và nguy cơ nhiễm trùng ố bụng, xuất huyết hậu phẫu. Tử cung không co hồi bình thường sẽ gây khó khăn cho việc bắt đầu tránh thai trong thời kỳ hậu sản. Chăng hạn như, cuộc chuyên dạ có biến chứng băng huyết sau sinh, nhiễm trùng hay mô bắt con thì việc triệt sản hay đặt IUDs có thể bị hoãn lại. Tránh thai bằng đường uống được trì hoãn nếu có nguy co huyết khối do mố lấy thai, có hay không kèm những biến chứng cúa nó [271- 1.3 Sự tiết sữa và vô kinh Sinh lý học bình thường cúa sự tiết sữa dựa trên sự mat dan steroids do nhau thai tiết ra, cùng với sự xuất hiện hormon tuyến yên đe điều hoà việc tiết sữa.

Trong suốt thai kỳ, estrogen và progesteron kích thích sự phát triển của các ống dẫn sữa và nang sữa. Vai trồ của prolactin trong sự phát tricn này đang bàn cãi, hormon tăng trướng và lactogen cùa nhau thai thì không cần thiết. Sau sinh, hormon nhau thai mất đi, tiếp sau đó prolactin bat đầu ảnh hưởng sự tiết sữa. Prolactin được tiết ra do phản xạ mút của bé.

Khi hormon nhau thai mất đi, sự nhạy cảm của vú tăng lên. Mặc dù sự nhạy cám cúa vú tăng lên ờ thời điếm khác khi nồng độ hormon giám (ví dụ sự rụng trứng, kinh nguyệt), sự tăng này hầu như chi xảy ra sau sinh. Sự tăng nhạy cảm xúc giác tồn tại vài ngày dù phụ nữ có cho con bú hay không. Hiện tượng này có lẽ do vai trồ then chốt kích thích hệ thống feedback nhằm duy trì tuyến sữa lâu dài 127].

Sự tiết sữa liên quan the nào với sự không rụng trúng và vô kinh sau sinh? Trong những năm gần đây, có hai giả thuyết chính giải thích mối liên hệ này. Giả thuyết thứ nhất có liên quan tình trạng dinh dưỡng cua mẹ. cấu tạo cơ thể (tỷ lệ mỡ/ cơ hay trọng lượng mỡ/ cơ thể) có thể là ycu tố quan trọng quyết định khả năng sinh sán của phụ nữ [32]. Giá thuyết này liên quan sự duy trì chu kỳ rụng tráng đều đặn bởi một lượng mỡ nhỏ nhất.

Người ta nói rằng sự rụng trúng bị ảnh hướng trực tiếp bởi hoạt động tiêu hao năng lượng và dinh dưỡng kém như sự tiết sữa. Như vậy, sự rụng tiling chi xáy ra khi toàn bộ năng lượng trong cơ thể còn đầy đủ. Sau đó, khi sự tiết sữa chấm dứt và tình trạng dinh dưỡng cúa thời kỳ hậu sán được cái thiện, sự rụng trúng sẽ trớ lại [14], [2], [32], 2 Giả thuyết thứ hai gợi ý sự không rụng trứng sau sinh do tác động mút sữa làm tăng nồng độ prolactin, ức chế đinh LH [27]. Dộng tác mút vú kích thích sự phóng thích prolactin và oxytocin.

Sự phóng thích prolactin xảy ra cùng lúc khi đứa bé bú và tỷ lệ với thời gian và số lần cho bú. Neu tré được cho bú khi nó muốn, cả ngày lẫn đêm giúp duy trì prolactin. Điều này làm giảm đỉnh LH, vì vậy ngăn ngừa sự rụng trứng [27], [36]. Sự rụng trứng bỉnh thường không xáy ra trừ khi có một đỉnh LH đủ lớn trong môi trường hormon thích hợp.

Trong suốt thời gian thôi bú, đứa trẻ mút kém đi, lượng prolactin giảm vì thế đinh LH tăng lên [27], [21], Lý thuyết về dinh dưỡng có thể song hành với lý thuyết prolactin-LH trong những trường hợp nghiêm trọng. Mối tương quan cùa tình trạng dinh dưỡng trong thời gian cho bú mẹ với phản ứng tiết prolactin của hạ đồi - tuyến yên thì không được hicu đầy đú và cần được nghiên cứu thêm. Các phụ nữ dinh dưỡng kém sẽ tạo sữa khó khăn, vì vậy con của họ phái được cho bú thường xuyên hơn. Điều này làm tăng kích thích cung phán xạ, vì thế giám đỉnh LH và ngăn ngừa sự rụng trứng [16].2 Vô kinh tạm thòi sau sinh Trong khi có thai chu kỳ hoạt động của buồng trứng bị ngừng lại.

Sau khi sổ nhau, tác dụng ức chế của estrogen và progesterone bị loại bỏ, vì the mức FSH và LH tuần tự tăng dần và chức năng buồng trứng bắt đầu trở lại. Vì vậy, hầu hết những phụ nữ không tiết sữa sẽ thấy kinh trở lại trong vồng 4-6 tuần sau sinh nhưng khoáng 3,3% chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên là không có rụng trứng và một tỷ lệ lớn các chu kỳ rụng trứng đầu tiên có pha hoàng thể bị khiếm khuyết. Trong số những phụ nữ không tiết sữa, chu kỳ rụng trứng đầu tiên xảy ra trung bình là 45 ngày sau sinh, tuy vài chu kỳ rụng trứng đầu tiên có pha hoàng thê bình thường [14], [24], Nguyên nhân chính của vô kinh kéo dài sau sinh là bú mẹ. Người ta biết rằng cho bú mẹ có ảnh hướng khá năng sinh sán bởi sự kéo dài thời kỳ vô kinh sau sinh.

Trong xã hội mà cho bú mẹ đã pho cập, việc sứ dụng tránh thai trở nên hiếm. Quyết 3 định kéo dài khoảng cách sinh là thời gian cho con bú. Cho con bú làm phóng thích prolactin, chất này ức chế phóng thích gonadotrophin, hormon khởi phát sự trở lại của chu kỳ kinh nguyệt. Càng cho bú lâu và nhiều càng làm tăng phóng thích prolactin và vì vậy hiệu quả tránh thai của bú mẹ càng cao.

Cho bú hoàn toàn tức là trẻ không thêm thức ăn, thức uống nào khác thì ức chế hầu như hoàn toàn. Neu sự mút vú ít và không thường xuyên thì ức chế một phần. Vì vậy sự rụng trứng có thê trở lại khi đang cho con bú [14], [2], [37].3 Kinh nguyệt sau sinh Kinh nguyệt nói chung không trờ lại trước 4 hoặc 5 tuần sau sinh. Ớ phụ nữ không cho con bú, thời gian trung bình của sự trở lại kinh nguyệt là 8 tuần sau sinh và ở phụ nữ cho con bú là 12 tuần.

Kỳ kinh đầu tiên thường là không rụng trứng - sự rụng trứng hiếm khi xảy ra trước tuần thứ 4 hoặc 5 sau sinh, không kể đến có cho con bú hay không. Kinh nguyệt xảy ra muộn trong thời kỳ hậu sản thường dự báo trước sự rụng trứng [15]. Perez và cộng sự [16] đánh giá sự xảy ra kỳ kinh nguyệt đầu tiên và thời gian rụng trứng trở lại có liên quan đến việc cho con bú của một nhóm phụ nữ trong thời kỳ hậu sản. Các phương pháp đánh giá có sự rụng trúng gồm sinh thiết nội mạc tử cung, nghiên cứu chất nhầy cổ tử cung, biểu đồ thân nhiệt và tế bào học âm đạo.

Sự rụng trứng sớm nhất xảy ra vào ngày thứ 36 và muộn nhất vào ngày 442 sau sinh. Trong những phụ nữ mà việc cho con bú bị ức chế vì lý do y khoa, kinh nguyệt trung bình vào ngày 49 trước sự rụng trứng đầu tiên sau sinh. Neu chấm dứt cho con bú một cách tự nhiên, trung bình 112 ngày. Việc cho bú ngưng tự phát trong 2 tuần đầu sau sinh có ít ảnh hưởng đen sự trì hoãn rụng trúng.

Dựa vào nghiên cứu này, Pezer và cộng sự đã chứng tở một phụ nữ cho con bú hoàn toàn có hiệu quá tránh thai trong 9 tuần đầu sau sinh, cao nhất là 7 - 9 tuần. Sau đó khả năng rụng trứng dù vẫn tiếp tục cho con bú hoàn toàn. Dữ liệu này ứng dụng rằng néu bệnh nhân có kinh lại thì phụ nữ sau sinh đã bat đầu rụng trứng rồi dù có cho con bú hay không [17]. 4 - Tránh thai tạm thời là những biện pháp sau khi không sử dụng nữa sẽ có thai trở lại.

- Tránh thai vĩnh viễn là những biện pháp vĩnh viễn không có thai lại được (triệt sản nam và nữ). Muốn có thai lại phải phẫu thuật rất khó khăn và tỷ lệ thành công rất thấp. Hiện nay các báo cáo chương trình dân số KHHGĐ thường chia làm 2 loại: BPTT hiện đại và BPTT truyền thống. BPTT hiện đại là những BPTT cần dùng dụng cụ, thuốc, thủ thuật, phẫu thuật ngăn cản mang thai.

BPTT truyền thống là những BPTT không cần dụng cụ, thuốc, hay những thủ thuật nào để ngăn cản sự thụ tinh.1 Các biện pháp tránh thai hiện đại ❖ Biện pháp tránh thai bang thuốc Là những BPTT có hồi phục, sử dụng các dẫn xuất steroids. Tùy theo cách có phối hợp hay không phối hợp giữa hai loại nội tiết estrogen và progestin để sản xuất ra các chế phẩm khác nhau và sử dụng nhiều cách khác nhau như: thuốc viên tránh thai uống, thuốc tiêm tránh thai, miếng dán ngừa thai và que cấy tránh thai sao cho phù hợp với khách hàng và ngày càng được cái tiến đe giám tác dụng phụ không mong muốn. Cơ chế tác dụng: dựa trên tác dụng của estrogen và progestin đơn thuần hoặc phối họp cả hai - Tác dụng của estrogen: ức chế tuyến yên chế tiết FSH và LH nên ức che phóng noãn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ