phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài đƣợc kết cấu theo 3 chƣơng, 8 tiết. Tuyên truyền phòng, chống mê tín dị đoan cho đồng bào dân tộc thiểu số - Một số vấn đề lý luận. Tuyên truyền phòng, chống mê tín dị đoan cho đồng bào dân tộc tày ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang hiện nay - Thực trạng và những vấn đề đặt ra. Quan điểm và giải pháp tăng cƣờng tuyên truyền phòng, chống mê tín dị đoan cho đồng bào dân tộc tày huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới.
8 Chƣơng 1 TUYÊN TRUYỀN PHÒNG, CHỐNG MÊ TÍN DỊ ĐOAN CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Tuyên truyền phòng, chống mê tín dị đoan cho đồng bào dân tộc thiểu số 1. Một số khái niệm 1. Tuyên truyền Cuốn “Nguyên lý công tác tƣ tƣởng” của tác giả Lƣơng Khắc Hiếu viết, thuật ngữ tuyên truyền có hai nghĩa: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tƣ tƣởng về chính trị, triết học, khoa học, nghệ thuật… nhằm biến những quan điểm, tƣ tƣởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng. Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là truyền bá những quan điểm lý luận nhằm xây dựng cho quần chúng một thế giới quan nhất định, phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền và kích thích những hoạt động thực tế phù hợp với thế giới quan ấy. Trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, khi bàn về "Ngƣời tuyên truyền và cách tuyên truyền", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết : “Tuyên truyền là đem một việc gì đó, nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân làm. Nếu không đạt đƣợc mục đích đó là tuyên truyền thất bại” [15, tr.
Theo PGS,TS. Nguyễn Chí Mỳ, tuyên truyền là phổ biến, giải thích một tƣ tƣởng, một học thuyết, một quan điểm nào đó, nhằm hình thành hoặc củng cố ở đối tƣợng tuyên truyền một thế giới quan, nhân sinh quan, một lý tƣởng, một lối sống thông qua đó mà ảnh hƣởng tới thái độ và hoạt động tích cực của con ngƣời trong thực tiễn xã hội. Nhƣ vậy, tuyên truyền là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt, có tính lịch sử cụ thể. Bởi lẽ hoạt động tuyên truyền là giải thích, phổ biến, vận dụng những giá trị do hoạt động lý luận đã 9 đúc kết và khái quát từ hoạt động thực tiễn.
Tuy nhiên, hoạt động tuyên truyền không chỉ phổ biến lý luận mà còn phát triển lý luận, bởi tuyên truyền không chỉ phổ biến đơn thuần những kết luận của khoa học mà còn cụ thể hóa chúng, làm cho chúng phong phú hơn. Trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và việc kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, có thể hiểu khái niệm tuyên truyền: Tuyên truyền là hoạt động truyền bá, phổ biến, giải thích của chủ thể về một tư tưởng, một học thuyết hay một vấn đề nào đó với đối tượng tuyên truyền. Tuyên truyền nhằm đạt tới mục đích là làm thay đổi nhận thức, hình thành một kiểu ý thức xã hội, xây dựng thế giới quan nhất định ở đối tượng cho phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền. Tuyên truyền phải đạt tới hiệu quả là kích thích, thúc đẩy đối tượng hành động theo quan điểm, đường lối, mục đích đặt ra.
Trong cuốn Nguyên lý công tác tư tưởng đã chỉ ra “tuyên truyền là một hình thái của công tác tƣ tƣởng nhằm truyền bá HTT và đƣờng lối chiến lƣợc, sách lƣợc của giai cấp trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ thể HTT, bồi dƣỡng tình cảm, củng cố niềm tin và tập hợp, cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó…” [22, tr. Tác giả Hoàng Quốc Bảo khái quát “tuyên truyền là phổ biến, giải thích một tƣ tƣởng, một học thuyết, một quan điểm nào đó nhằm hình thành hoặc củng cố ở đối tƣợng tuyên truyền một thế giới quan, nhân sinh quan, một lý tƣởng, một lối sống… thông qua đó mà ảnh hƣởng đến thái độ và tính tích cực của con ngƣời trong thực tiễn xã hội” [12, tr. Tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan Tín ngƣỡng, tôn giáo là một hiện tƣợng xã hội, nó xuất hiện muộn hơn so với lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời; nhƣng từ khi ra đời đến nay, 10 nó luôn đồng hành cùng với sự phát triển của xã hội. Trong quá trình tồn tại và phát triển, tín ngƣỡng, tôn giáo ảnh hƣởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, xã hội, văn hoá, đạo đức, tâm lý, lối sống, phong tục tập quán… của nhiều dân tộc, quốc gia.
Tuy nhiên, khi bàn về khái niệm tín ngƣỡng, tôn giáo vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau. Tín ngưỡng là một thuật ngữ chƣa có khái niệm hay định nghĩa một cách thống nhất, rõ ràng. Dƣới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, ngƣời ta có thể đƣa ra những khái niệm, quan niệm khác nhau.Đặng Nghiêm Vạn cho rằng “Cần phân biệt niềm tin tôn giáo (tín ngƣỡng) với niềm tin trần tục. Trƣớc hết trong tín ngƣỡng phải có yếu tố liên quan đến một thế giới vô hình, đến những siêu linh mà chính con ngƣời tƣởng tƣợng và sáng tạo ra chúng, rồi để chúng chi phối và tác động ngƣợc trở lại đến đời sống trần tục” [7, tr.
Theo Nguyễn Đăng Duy thì “Tín ngƣỡng là một cách từ thực tế cuộc sống cộng đồng con ngƣời ý thức về một thần linh nào đó, rồi cộng đồng con ngƣời đó tin theo tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” [25, tr. Trong Pháp lệnh Tín ngƣỡng, tôn giáo đƣợc Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 19, ngày 18/06/2004, mặc dù không có khái niệm cụ thể về tín ngƣỡng nhƣng cũng đã chỉ ra “Hoạt động tín ngƣỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tƣởng niệm và tôn vinh những ngƣời có công với nƣớc, với cộng đồng, thờ cúng thần, thánh, biểu tƣợng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngƣỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hoá, đạo đức xã hội” [1, tr10, 11]. Từ một số khái niệm trên, có thể rút ra khái niệm về tín ngƣỡng nhƣ sau: Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào lực lượng nhiên thần hoặc nhân thần, mà lực lượng đó có khả năng chi phối cuộc sống của con người, thể hiện qua các hoạt động tôn thờ, cầu cúng, tôn vinh thông qua hệ thống đình, đền, miếu, nhà thờ tộc họ. Tín ngưỡng mang tính dân gian, được hình 11 thành trong một cộng đồng, một dân tộc có chung quan hệ về thần linh.
Tôn giáo là một thuật ngữ không thuần Việt, đƣợc du nhập vào nƣớc ta khoảng cuối thế kỷ XIX. Ở Việt Nam, ngoài thuật ngữ tôn giáo còn có nhiều từ khác có nghĩa tƣơng đồng nhƣ “đạo” (đạo Phật, đạo Cao Đài…); “giáo” (Công giáo, Hồi giáo…); “thờ cúng”… Ngƣời Việt Nam thƣờng dùng các từ trên nhiều hơn dùng thuật ngữ tôn giáo và đƣợc sử dụng linh hoạt trong từng trƣờng hợp cụ thể. Tôn giáo là hiện tƣợng xã hội cổ xƣa, nhƣng quan niệm về tôn giáo vẫn còn nhiều tranh luận giữa các trƣờng phái, các học giả và cả các tôn giáo. Tuy nhiên, phần đông đều cho rằng, đã nhắc đến tôn giáo dù nghĩa rộng hay nghĩa hẹp đều phải động chạm đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của ngƣời sống và thế giới sau khi chết, thế giới của các vật thể vô hình.Đặng Nghiêm Vạn, tôn giáo đƣợc hiểu là niềm tin vào các thế lực siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, đƣợc chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay hƣ ảo) với con ngƣời, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế, cũng nhƣ ở thế giới bên kia.
Niềm tin đó đƣợc biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hoá khác nhau, phụ thuộc vào nội dung một tôn giáo, đƣợc vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội hay tôn giáo [7, tr. Tuy nhiên, cho đến nay định nghĩa về tôn giáo của Ăngghen trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” vẫn đƣợc xem là chuẩn mực và còn nguyên giá trị: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hƣ ảo vào trong đầu óc của con ngƣời, của những lực lƣợng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lƣợng ở trên trần thế đã mang hình thức những lực lƣợng siêu trần thế” [48, tr. Mặc dù khó có thể đi đến thống nhất về việc giải thích từ ngữ, khái niệm hay định nghĩa về tôn giáo, nhƣng khi nói đến một tôn giáo chúng ta 12 có thể nhận thấy là một tôn giáo phải có những tiêu chí cơ bản sau: Cộng đồng ngƣời có chung niềm tin vào một thế lực nhiên thần hay nhân thần nào đó; có hệ thống giáo lý, giáo luật, giáo lễ; có tổ chức giáo hội, đội ngũ chức sắc, nhà tu hành và tín đồ; có thiết chế tôn giáo (cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động tôn giáo). Từ đó có thể hiểu: Tôn giáo là niềm tin của con người vào một thế lực nhiên thần hay nhân thần nào đó, được ràng buộc chặt chẽ bởi hệ thống giáo lý, giáo luật, giáo lễ; hoạt động trong giáo hội dưới sự dẫn dắt của các chức sắc, nhà tu hành thông qua hoạt động tại các cơ sở thờ tự hay tư gia.
Mê tín dị đoan Từ điển Tiếng Việt đƣa ra định nghĩa: “Mê tín: i. Tin một cách mù quáng vào cái thần bí, vào những chuyện thần thánh ma quỷ. Ƣa chuộng, tin một cách mù quáng, không biết suy xét. Điều quái lạ, huyễn hoặc do tin nhảm nhí mà có.
Tin vào dị đoan” [45, tr. Có quan niệm khác, coi mê tín là niềm tin không dựa trên cơ sở khoa học và lẽ phải thông thƣờng. Còn dị đoan là sự suy luận, suy đoán một cách tùy tiện về những điều quái dị, không có trong thực tế. Có nhà nghiên cứu cho rằng: Căn cứ vào trình độ và lợi ích của xã hội - mặt bằng xã hội thì những gì trái với lợi ích của xã hội, gây thiệt hại cho chính những ngƣời tin theo và không phù hợp với trình độ chung đƣợc cả xã hội nhìn nhận cũng đƣợc gọi là mê tín.