Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về TDNL - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Thực trạng TDNL tại Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN - Chương 4: Một sỐ giải pháp hoàn thiện việc TDNL tại Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN CHUONG 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TUYẾN DỤNG NHÂN LỰC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay đã và đang có nhiều nghiên cứu của các tác giả khác nhau về TDNL ở các lĩnh vực, tô chức khác nhau. Đinh Văn Toàn (2005) trong nghiên cứu của luận án tiến sĩ đã tập trung vào nghiên cứu và làm rõ các nội dung phát trién NNL trong một tô chức.
Công trình đã phân tích đặc điểm tổ chức SXKD, NNL và các yếu tố tác động đến NNL và các yêu cầu phát triển NNL trong tổ chực Điện lực. Đánh giá sự ảnh hưởng của NNL đến kết quả SXKD điện và năng suất lao động của EVN. Một trong những giải pháp mà tác giả đề cập đến nhằm phát triển NNL đó là “hoàn thiện công tác hoạch định phát triển NNL; nâng cao năng lực quản lý thực hiện phát triển NNL; tổ chức lại và nâng cao năng lực các cơ sở đào tạo; hợp tác trong nước và quốc tế; đảm bảo sự đồng bộ trong các chính sách quản lý NNL”. Giải pháp mà tác giả đưa ra hướng tới một loại hình DN cụ thể nên giá trị thực tiễn khá cao và là nguồn tài liệu tham khảo bồ ích cho các DN tại Việt Nam.
Bài viết “Vai trò của công tác TDNL trong tổ chức” của Nguyễn Chơn Trung (2011) cũng đã khăng định tuyển dụng là một công tác quan trọng hàng đầu trong QTNL, là điều kiện quan trọng cho việc hoạt động của tổ chức. Tác giả đã phân tích vai trò của công tác TDNL trong tổ chức, từ đó thấy được tầm quan trọng của công tác tuyên dụng va cần thiết phải xây dựng một quy trình tuyển dụng bai bản phù hợp cho mỗi DN. Bài viết của tác giả nghiên cứu công tác tuyên dụng của tổ chức nói chung, không phân loại từng loại hình DN khác nhau có những cách thức tuyên dụng khác nhau nên việc ứng dụng vào các DN cụ thể chưa thực sự hiệu quả. Đoàn Gia Dũng (2011) với công bố “Nhu cầu TDNL của các khu công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh” đã nghiên cứu về nhu cầu TDNL của các khu công nghiệp, chế xuất trong 3 năm.
Tác giả đã phân tích sâu về thực trạng và nguyên nhân biến động nhu cầu lao động cần tuyên dung qua các năm. Từ đó thấy được thực trạng thiếu hoặc thừa lao động dé đề xuất được các giải pháp hữu ích phù hợp với thực tế của đối tượng nghiên cứu. Tác giả cũng kết luận rằng, khâu xác định nhu cầu tuyên dụng là vô cùng quan trọng nhằm làm định hướng tiếp theo cho công tác TDNL tại các DN nói chung. Nhóm tac giả Lê Thị Lan năm 2012 đã nghiên cứu nội dung “Giai pháp thu hút lao động đáp ứng nhu cau phát triển của khu kinh tế Nghi Sơn đến năm 2020”.
Nhận định mà nhóm tác giả đưa ra đó là chính sách thu hút lao động của các khu kinh tế chưa thực sự hấp dẫn, chưa tiếp cận được đúng NLĐ cần tuyển dụng; cuộc sống của NLĐ còn nhiều khó khăn. Nghiên cứu khăng định việc thông báo tuyên dụng là hết sức quan trọng. Bên cạnh đó cần đa dạng hóa các nguồn tuyển dé moi người được tiếp cận với thông tin nhiều hơn. Một số hạn chế cũng được chỉ ra trong công tác thu hút nhân sự, từ đó đề xuất một số giải pháp đề thu hút lao động cho khu kinh tế Nghi Sơn đến năm 2020.
Năm 2015, tác giả Phạm Thị Út Hạnh cũng đã có nghiên cứu về Công tác TDNL tại CTCP nhiệt điện Phả Lại. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra những vấn đề cơ bản trong lý luận về công tác tuyển dụng gồm: chuẩn bị tuyển dụng, tuyển mộ, tuyên chọn và hội nhập nhân viên mới. Tác giả cũng được nghiên cứu kinh nghiệm TDNL của Nha máy Nhiệt điện Mông Dương, Công ty Nhiệt điện Uống Bí dé làm tham chiếu cho nghiên cứu của mình. Sau khi có những đánh giá thực trạng tại Công ty cô phần (CTCP) nhiệt điện Phả Lại, và phương hướng phát triển của công ty, Ut Hạnh đã đưa 05 giải pháp trực tiếp cùng 01 giải pháp hỗ trợ và một số kiến nghị đề xuất nhằm hoàn thiện tốt hơn công tác tuyên dụng tại công ty.
Nghiên cứu gần nhất là dé tài “Hoan thiện công tác tuyên dụng tại EVN” của tác giả Hoàng Gia Thọ cũng đã trình bày các nội dung chính về tuyên dụng như tuyển mộ, tuyển chọn; quy trình, các yếu tố tác động tới công tác tuyên dung của tập đoàn. Nghiên cứu cũng đã phân tích thực trạng công tác tuyên dụng tại tập đoàn trong giai đoạn 2015-2019. Từ đó đưa ra được những giải pháp cho thời gian tiếp sau (theo định hướng phát triển giai đoạn 2025 đến 2030 của Tập đoàn) gồm hoàn thiện công tác xác định nhu cầu tuyển dụng, đa dạng hóa nguồn tuyển dụng, hoàn thiện quy trình tuyên mộ và truyền chọn, hoàn thiện các hoạt động QTNL làm cơ sở cho công tác tuyển dụng. Như vậy, có thê thấy mỗi nghiên cứu là một góc cách tiếp cận riêng nhưng đều hướng tới mục đích góp phan nâng cao hiệu quả tuyển dụng trong các tô chức.
Nghiên cứu của tác giả Gia Thọ cũng đã trực diện vào công tác tuyên dụng tại Tập đoàn EVN, tuy nhiên ở góc độ tăng cường các giải pháp cho khâu tuyên mộ và định hướng nhân lực số nhằm đáp ứng cho giai đoạn phát triển thần tốc trong cách mạng công nghiệp 4.0 của Tập đoàn là nội dung mới mà Gia Thọ chưa có đề cập tới. Đây cũng là khoảng trống nghiên cứu khá rõ nét cho đề tài luận văn này. Việc nghiên cứu sâu vấn đề tuyển dụng chỉ trong các khối SXKD điện năng, bao gồm Khối phát điện, Khối truyền tải điện, Khối phân phối — kinh doanh cũng sẽ là một điểm riêng có mà tác giả muốn triển khai ở đề tài này. Một số khái niệm cơ bản 1.
Nhân lực và tuyển dụng nhân lực Nhân lực Theo Lê Văn Tâm, Ngô Kim Thanh (2008) đất nước một số thuật ngữ hành chính thì nhân lực: - Theo nghĩa rộng được hiểu là nguồn lực con người. - Theo nghĩa hẹp, thì có: + Nhân lực xã hội (còn gọi là nguồn lãnh đạo xã hội) là dân số trong độ tudi có khả năng lao động. + Nhân lực DN là lực lượng lao động của từng DN, là số người có trong danh sách của DN. Nói đến nhân lực là nói đến con người.
Các quan điểm về nhân lực đều phản ánh chung đó là toàn bộ khả năng thé lực và trí lực của con người tham gia vào quá trình lao động. Như vậy, nhân lực là năng lực mà các cá nhân sử dụng trong quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân cũng như tất cả các tiềm năng của cá nhân một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức một xã hội. Tuyến dụng Tuyển dụng là tập hợp các hoạt động mà tô chức sử dụng dé thu hút các ứng viên tìm việc có các khả năng và phẩm chất cần thiết để giúp tổ chức hoàn thành mục tiêu (Huỳnh Thị Thu Sương, 2017, tr.37) Theo tác giả Huỳnh Thị Thu Sương (2017) thì tuyển dụng là tập hợp các hoạt động mà tổ chức sử dụng dé thu hút các ứng viên tìm việc có các khả năng và pham chat cần thiết dé giúp tổ chức hoàn thành mục tiêu. Theo Lê Thanh Hà (2009), TDNL chính là một quá trình tìm kiếm và lựa chọn nhân lực dé thỏa mãn nhu cầu sử dụng của tô chức và bổ sung lực lượng lao động cần thiết dé thực hiện các mục tiêu của tổ chức.
Với các tác giả Vũ Thùy Dương và Hoàng Văn Hải (2006), quá trình từ việc tìm kiếm, thu hút ứng cử viên từ những nguồn khác nhau đến tham gia dự tuyển vào các vị trí còn trồng trong tô chức và lựa chọn trong số họ những người đáp ứng tốt yêu cầu công việc đặt ra đều là những nội dung công việc trong tuyên dụng. Hay như nhóm tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007) thì định nghĩa “Tuyền dụng là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng bên trong tô chức và đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc dé tìm được những người phù hợp với các yêu cầu đặt ra”. Như vậy, có thé thay: TDNL là quá trình bao gồm các khâu tìm kiếm (tuyển mộ); thu hút, lựa chọn (tuyển chọn) và đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc, dé tìm được những người ưu tú, phù hợp bố sung lực lượng lao động cần thiết nhằm đáp ứng được yêu cầu sử dụng nhân lực của tô chức. Quá trình tuyển dụng được coi là hoàn tất sau khi đã bố trí nhân lực vào các vị trí phù hợp và định hướng nhân sự mới hòa nhập trong môi trường của tô chức.
Tuyển mộ, tuyển chọn nhân lực Tuyền mộ, tuyển chọn là những khái niệm năm trong TDNL. Tuyển mộ Tuyển mộ là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tô chức. Mọi tô chức phải có day đủ khả năng dé thu hút đủ số lượng và chất lượng lao động dé nhằm đạt được các mục tiêu của mình (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2007) Quá trình tuyển mộ có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của cả quá trình tuyển chọn. Trong thực tế sẽ có NLĐ có trình độ cao nhưng họ không được tuyển chọn vì họ không được biết các thông tin tuyển mộ, hoặc không có cơ hội nộp đơn xin việc.
Chất lượng của quá trình lựa chọn sẽ không đạt yêu cầu hoặc hiệu quả thấp nếu số lượng nộp đơn xin việc ít hơn (hoặc bằng) số nhu cầu cần tuyên chọn. Công tác tuyển mộ có ảnh hưởng lớn đến chất lượng NNL trong tổ chức. Tuyên mộ không chi ảnh hưởng tới việc tuyên chon, mà còn ảnh hưởng tới các chức năng khác của quản trị NNL như: đánh giá thực hiện công việc, thù lao lao động, dao tạo và phát triển NNL, các mối quan hệ lao động. Mục tiêu của tuyển mộ là đảm bảo đủ và đúng số ứng viên cần cho tuyển chọn.