Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về tuyển dụng công chức. Chương 2: Pháp luật và thực trạng tuyển dụng công chức ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo chất lượng tuyển dụng ở Việt Nam hiện nay. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC 1.
Khái niệm công chức Chế độ công chức ra đời ở các nước tư bản phương Tây vào giữa thế kỷ XIX, nó phản ánh nhu cầu khách quan của lịch sử phát triển kinh tế, chính trị văn hóa ở các nước tư bản chủ nghĩa, là động lực hình thành và phát triển của chế độ Công chức [22]. Các nước trên thế giới hiện nay đang thực hiện chế độ công chức thì đại đa số đều có chung nhận thức như sau: Công chức là viên chức làm việc nhà nước, được bổ nhiệm gánh vác công việc chính phủ giao, không thông qua thủ tục bầu cử hoặc công chức là khái niệm chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương. Nhưng do quan điểm tổ chức của Nhà nước và của Chính phủ giữa các nước không giống nhau nên khái niệm công chức cũng luôn khác nhau. Khái niệm công chức mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc rất nhiều vào quan niệm công vụ, vào chế độ chính trị và nền văn hóa của mỗi quốc gia và phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể trong từng nước [22].
Do đó, trong thực tế rất khó có một khái niệm chung về công chức cho tất cả các quốc gia, thậm chí ngay trong một quốc gia, ở giai đoạn lịch sử phát triển khác nhau, thuật ngữ này cũng mang những nội dung không giống nhau. Khái niệm công chức được hiểu khác nhau giữa các quốc gia do có sự khác biệt về hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước, sự phát triển kinh tế - xã hội, tính truyền thống và các yếu tố văn hóa, lịch sử. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, đặc điểm chung của công chức thường được hiểu là những công dân của nước đó, được tuyển dụng qua thi tuyển hoặc xét tuyển, được bổ nhiệm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vào một ngạch; một chức danh hoặc gắn với một vị trí việc làm, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Ở nước Pháp, khái niệm Công chức được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm tất cả những người làm việc trong các cơ quan nhà nước có tư cách pháp nhân công quyền, trong các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, nhân viên hành chính trong các đơn vị quân đội và trong Quốc hội [19].
Công chức pháp được phân thành 3 loại bao gồm: Công chức hành chính nhà nước, trực thuộc các Bộ trưởng quản lý; Công chức trực thuộc cộng đồng lãnh thổ (tỉnh, vùng, xã), làm việc cho chính quyền lãnh thổ - loại này không thuộc công chức hành chính nhà nước; Công chức trực thuộc các công sở tự quản, trong đó có các bệnh viện [20]. Ở Vương quốc Anh, lần đầu tiên thuật ngữ Công chức được sử dụng vào năm 1859, trong Luật Hưu trí. Theo đó, Công chức bao gồm những người: - Do vua Anh trực tiếp bổ nhiệm hoặc được Ủy ban dân sự cấp giấy chứng nhận cho phép tham gia công vụ ở cơ quan dân sự; - Được hưởng lương từ ngân sách thống nhất của Vương quốc hoặc từ các khoản được Nghị viện thông qua. Năm 1977, Hạ viện Anh khẳng định, công chức là người thay mặt nhà nước giải quyết việc công, Công chức chỉ bao gồm những nhân viên làm việc trong ngành hành chính như nội chính và ngoại giao [20].
Ở Nhật bản, khái niệm Công chức bao hàm cả công chức nhà nước và công chức địa phương. Công chức nhà nước bao gồm những nhân viên giữ chức vụ trong bộ máy của Chính phủ Trung ương, ngành Tư pháp, Quốc hội, Quân đội, nhà trường và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được chia ra hai loại: công chức chung và công chức đặc biệt (được bổ nhiệm không qua thi cử theo luật định). Công chức địa phương được hưởng lương từ ngân sách địa phương [20]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Mỹ, tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ đều được gọi chung là công chức, bao gồm những người được bổ nhiệm về chính trị như Bộ trưởng, thứ trưởng, trợ lý bộ trưởng (còn gọi là công chức chính trị hay công chức chức nghiệp), những người đứng đầu bộ máy độc lập và những quan chức của ngành hành chính.
Các thượng nghị sĩ, hạ nghĩ sĩ trong ngành lập pháp và những viên chức làm thuê trong Quốc hội thì không phải là công chức. Quan hệ giữa Chính phủ và công chức là quan hệ giữa ông chủ và người làm thuê, ngoài việc điều chỉnh theo quy phạm Luật hành chính, quan hệ này còn được điều chỉnh bằng hợp đồng dân sự [20]. Ở Việt Nam, ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế công chức, trong đó khái niệm Công chức Việt Nam chỉ được xác định trong phạm vi cơ quan của Chính phủ. Theo đó, khái niệm công chức được hiểu như sau: Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp do Chính phủ quy định [12].
Đây là lần đầu tiên ở Việt Nam, khái niệm công chức đã được nêu ra trong văn bản chính thức của nhà nước. Theo Quy chế này, phạm vi công chức còn rất hẹp, chỉ là những người được giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ. Năm 1951, Bộ Nội vụ đã tổ chức một kỳ thi tuyển ngạch Công chức. Do hoàn cảnh chiến tranh nên sau đó Quy chế Công chức Việt Nam không được triển khai đầy đủ.
Kháng chiến thắng lợi, trong công cuộc xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà, chế độ Công chức được thực hiện trên cả nước. Tuy nhiên, trong nhận thức xã hội nói chung, khái niệm về công chức chưa thật rõ ràng. Đến năm 1998, khi pháp lệnh Cán bộ, công chức được ban hành, những 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, đoàn thể được gọi chung trong một cụm từ là “Cán bộ, Công chức”. Cụ thể hóa Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, Nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức đã liệt kê những đối tượng công chức nhà nước.
Theo đó, theo quy định tại Khoản 3, Khoản 5 (Điều 1) của Pháp lệnh này [5] thì dấu hiệu để nhận biết được công chức: là công dân Việt Nam; được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước; được phân loại theo trình độ đào tạo; được xếp vào ngạch hành chính, sự nghiệp; trong biến chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2003) đã dần có sự phân hóa các đối tượng phục vụ nhà nước và đưa ra quan niệm mới, cụ thể hơn về cán bộ, công chức. Theo đó, pháp luật đã bắt đầu có sự phân hóa các đối tượng mà trước đây gọi là công chức ngạch hành chính và ngạch sự nghiệp. Công chức ngạch sự nghiệp sẽ được chuyển thành viên chức.
Năm 2008, năm đánh dấu sự ra đời của Luật Cán bộ, Công chức có hiệu lực ngày 01/01/2010. Điều này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ Cán bộ, Công chức. Theo đó, Luật Cán bộ, Công chức 2008 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [26, Điều 4, Khoản 2]. Để cụ thể những người là công chức, Chính phủ đã ban hành Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 quy định những người là công chức, cụ thể bao gồm những công chức sau: - Công chức trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam; - Công chức trong Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; - Công chức trong Bộ, cơ quan Ngang bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập; - Công chức trong các cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện; - Công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân; - Công chức trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân; - Công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội; - Công chức trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; - Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập [8].
Công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau: - Trưởng Công an xã; - Chỉ huy trưởng Quân sự; - Văn phòng – thống kê; - Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã); - Tài chính – kế toán; - Tư pháp – hộ tịch; - Văn hóa – xã hội [8]. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, Luật cán bộ, công chức năm 2008 cùng các văn bản có liên quan hiện nay là một sự kế thừa và phát triển những quy định trước đây về cán bộ, công chức. Khái niệm cán bộ, công chức đã được luật hóa.