PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Đa dạng sinh học (ĐDSH) - nguồn tài nguyên quý giá nhất của con ngƣời đang bị suy thoái một cách báo động và đã trở thành một trong những vấn đề môi trƣờng bức xúc nhất hiện nay trên phạm vi toàn cầu. Trong giai đoạn hiện nay, dƣới tác động của các cuộc khủng hoảng mới: khủng hoảng khí hậu (biến đổi khí hậu), khủng hoảng tài chính, khủng hoảng năng lƣợng, khủng hoảng lƣơng thực v.v, thì vấn đề càng trở nên trầm trọng hơn đến mức đe doạ tới sự tồn vong của con ngƣời trên Trái đất. Một mặt, những cuộc khủng hoảng này, đặc biệt là biến đổi khí hậu (BĐKH) tác động mạnh mẽ tới ĐDSH.
Mặt khác, những hoạt động về bảo tồn và phát triển ĐDSH lại góp phần quan trọng để giảm nhẹ tác động tiêu cực của những cuộc khủng hoảng này. Nhƣ Tổng thƣ ký Liên Hợp Quốc Ban Ki Moon (2010) đã khẳng định: “ĐDSH phải là nền tảng để xây dựng các mục tiêu khác. Chúng ta cần một tầm nhìn mới về ĐDSH cho một hành tinh khoẻ mạnh và một tương lai bền vững cho nhân loại” [2, tr5]. Việt Nam đƣợc công nhận là một trong 16 nƣớc có tính ĐDSH cao nhất thế giới và là một trong các quốc gia đƣợc ƣu tiên của chƣơng trình bảo tồn toàn cầu [9, tr.
Mặc dù chúng ta đã có rất nhiều cố gắng trong công tác bảo tồn, trong đó quan trọng nhất là đã xây dựng đƣợc một hệ thống 164 khu bảo tồn trên cạn bao gồm: 30 Vƣờn Quốc gia (VQG), 69 khu bảo tồn (KBT) thiên thiên, 45 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm với diện tích gần 2,5 triệu hecta chiếm 7,6% diện tích lãnh thổ [10, tr. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ĐDSH vẫn đang tiếp tục bị suy thoái, thậm chí ngay trong vùng lõi của các KBT này. VQG Xuân Sơn mới đƣợc chính thức chuyển hạng thành VQG từ KBT Thiên nhiên theo quyết định số 49/2002/QĐ-TTg ngày 17/4/2002 của Thủ tƣớng Chính phủ. VQG Xuân Sơn có giá trị cao về ĐDSH, trong đó có nhiều loài động thực vật quý hiếm đang bị đe doạ ở mức quốc gia và toàn cầu.
Tuy nhiên cũng giống nhƣ nhiều VQG và KBT khác, hiện nay các mối đe doạ đối với khu hệ động vật hoang dã và hệ thực vật VQG Xuân Sơn do những hoạt động trực tiếp của con 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời (săn bắt động vật, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc trái phép…) đang là một thách thức lớn cho công tác bảo tồn. Đặc biệt, trong vùng đệm của VQG Xuân Sơn vẫn còn 32.423 dân cƣ sinh sống. Phần lớn họ đều là đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) (chiếm 90,03%), trong đó tỷ lệ hộ nghèo chiếm 44%. Đồng bào ngƣời DTTS nơi đây từ nhiều đời nay đã gắn bó với rừng, lấy rừng là nguồn sống thông qua các hoạt động canh tác nƣơng rẫy, khai thác và săn bắt.
Do đó, áp lực lên tài nguyên trong VQG là rất lớn đòi hỏi cần phải đƣợc nghiên cứu và giải quyết một cách hài hoà giữa công tác bảo tồn ĐDSH và đảm bảo sinh kế cho ngƣời dân. Trong bối cảnh đó, chúng tôi nhận đề tài cho luận văn tốt nghiệp Chƣơng trình Thạc sĩ ngành Việt Nam học là “Nghiên cứu sự tƣơng tác giữa cộng đồng dân cƣ vùng đệm và bảo tồn ĐDSH ở VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ để giải quyết những thách thức hiện nay trong bảo tồn ĐDSH của VQG. Tổng quan tài liệu 2. Đa dạng sinh học Về mặt khoa học, có khoảng 25 định nghĩa khác nhau cho thuật ngữ ĐDSH.
Hiện nay, định nghĩa ĐDSH của CBD (1992) đƣợc nhiều ngƣời chấp nhận hơn cả: “ĐDSH là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các HST trên cạn, trong đại dƣơng và các HST thủy vực khác, cũng nhƣ các phức HST mà các sinh vật là một thành phần” [8, tr. Nhƣ vậy, ĐDSH là sự giàu có, phong phú các nguồn gen, các loài và các HST, là tài nguyên tái tạo, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển tiến hoá của sinh giới và đặc biệt là đối với đời sống của con ngƣời. CBD đã nhấn mạnh giá trị kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, mỹ học, giải trí, sinh thái và môi trƣờng của ĐDSH đối với sự sống của con ngƣời hiện tại và tƣơng lai. ĐDSH là cơ sở cho sự ổn định kinh tế và các hệ thống chính trị xã hội.
ĐDSH cung cấp cho con ngƣời lƣơng thực, thực phẩm, nƣớc sạch, thuốc chữa bệnh và các sản phẩm khác, đƣa con ngƣời ra khỏi đói nghèo. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bảo tồn Đa dạng sinh học Ngày nay, sự suy thoái ĐDSH càng gia tăng, đặc biệt ở vùng nhiệt đới trong đó có Việt Nam, một trong những điểm nóng về ĐDSH thế giới. Do đó, bảo tồn ĐDSH đang trở thành một vấn đề của toàn xã hội, chứ không phải chỉ là công việc của những ngƣời làm công tác bảo tồn.
“Bảo tồn ĐDSH là việc bảo vệ sự phong phú của các HST tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trƣờng sống tự nhiên thƣờng xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trƣờng, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ; lƣu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền” [39, tr. Hiện nay có nhiều phƣơng pháp bảo tồn khác nhau. Có thể phân chia thành hai loại chính là bảo tồn tại chỗ (hay còn gọi là bảo tồn nguyên vị) và bảo tồn chuyển chỗ (hay còn gọi là bảo tồn chuyển vị). Luật ĐDSH của Việt Nam định nghĩa nhƣ sau: Bảo tồn tại chỗ là bảo tồn loài hoang dã trong môi trƣờng sống tự nhiên của chúng; bảo tồn loài cây trồng, vật nuôi đặc hữu, có giá trị trong môi trƣờng sống, nơi hình thành và phát triển các đặc điểm đặc trƣng của chúng [39, tr.
Bảo tồn chuyển chỗ là bảo tồn loài hoang dã ngoài môi trƣờng sống tự nhiên thƣờng xuyên hoặc theo mùa của chúng; bảo tồn loài cây trồng, vật nuôi đặc hữu, có giá trị trong môi trƣờng sống, nơi hình thành và phát triển các đặc điểm đặc trƣng của chúng, lƣu giữ, bảo quản nguồn gen và các mẫu vật di truyền trong các cơ sở khoa học và công nghệ hoặc cơ sở lƣu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền [39, tr. Vùng đệm Luật ĐDSH đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 quy định rõ: “Vùng đệm là vùng bao quanh, tiếp giáp khu bảo tồn, có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với KBT” [39, tr. Ngoài ra, có một định nghĩa về vùng đệm cụ thể hơn của D. Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999) nhƣ sau: “Vùng đệm là những vùng được xác định ranh 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của KBT và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn.
Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế xã hội (KT – XH) của các cư dân sống trong vùng đệm” [19, tr. Khu Bảo tồn, Vườn Quốc gia KBT hay KBT thiên nhiên là khu vực địa lý đƣợc xác lập ranh giới và phân khu chức năng để bảo tồn ĐDSH [39, tr. Trong luật ĐDSH quy định: KBT bao gồm: a) Vƣờn Quốc gia; b) Khu dự trữ thiên nhiên; c) KBT sinh cảnh – loài; d) Khu bảo vệ cảnh quan. VQG có các tiêu chí sau đây: Có HST tự nhiên quan trọng đối với quốc gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại điện cho một vùng sinh thái tự nhiên; Là nơi sinh sống tự nhiên thƣờng xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ; Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; Có cảnh quan môi trƣờng, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái.
Cộng đồng Theo quan niệm Mác – xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, đƣợc quyết định bởi sự cộng đồng hoá lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con ngƣời hợp thành cộng đồng đó [35, tr. Mặc dù có những quan niệm khác nhau về cộng đồng, nhƣng khái niệm “cộng đồng” đƣợc dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng đồng cƣ thôn. Tại Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 đã định nghĩa: “Cộng đồng dân cƣ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tƣơng đƣơng” [40, tr. Cộng đồng trong công tác bảo tồn ĐDSH “Dựa vào cộng đồng” là một cách tiếp cận trong đó những ngƣời sử dụng tài nguyên cũng phải là ngƣời quản lý hợp pháp đối với nguồn tài nguyên.
Điều này giúp phân biệt nó với các chiến lƣợc quản lý các nguồn TNTN khác hoặc là có tính tập trung hoá cao hoặc là không có sự tham gia của các cộng đồng phụ thuộc trực tiếp vào nguồn tài nguyên. Suy thoái TNTN và mất ĐDSH không chỉ đơn thuần là hiện tƣợng sinh học thuần tuý hay do nhu cầu phát triển kinh tế mà còn là vấn đề phức tạp liên quan đến lối sống của con ngƣời, phong tục, tập quán, thái độ, hành vi của từng cá nhân, của cộng đồng dân tộc hay nói cách khác là truyền thống văn hoá. Trong mối quan hệ giữa văn hoá và TNTN nói chung, ĐDSH nói riêng, bản sắc văn hoá của mỗi cộng đồng dân tộc thể hiện ở thế ứng xử của dân tộc ấy. Vì vậy, Tuyên ngôn của Hội nghị thƣợng đỉnh Johannesburg (2002) đã ghi nhận: “ngƣời bản địa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tính ĐDSH của Trái Đất”.
Thật không may, kinh nghiệm của miền núi ở khắp mọi nơi trên thế giới cho thấy sự lệ thuộc là hậu quả phổ biến nhất khi quyền kiểm soát việc quản lý tài nguyên và các quy định về phƣơng hƣớng phát triển vƣợt ra khỏi tầm tay của ngƣời dân địa phƣơng [27, tr.