Tục Ngữ Về Đạo Lý Trong Tiếng Trung (Có So Sánh Với Tiếng Việt)

Khám phá tục ngữ về đạo lý trong tiếng Trung và so sánh với tiếng Việt, giúp hiểu sâu sắc văn hóa và triết lý sống của hai dân tộc.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

211
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu và ngữ liệu nghiên cứu

0.6. Những đóng góp của luận án

0.7. Bố cục của luận án

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Một số quan niệm về tục ngữ trong tiếng Trung và tiếng Việt

1.2. Tục ngữ trong tiếng Trung

1.3. Tục ngữ trong tiếng Việt

1.4. Khái niệm tục ngữ về đạo lý. Phân biệt thành ngữ, ca dao với tục ngữ

1.5. Tục ngữ và thành ngữ

1.6. Tục ngữ và ca dao

2. CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC CỦA TỤC NGỮ VỀ ĐẠO LÝ TRONG TIẾNG TRUNG - CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT

2.1. Tính ngắn gọn và chặt chẽ của cấu trúc tục ngữ

2.2. Tính chất ngắn gọn

2.3. Tính chất chặt chẽ

2.4. Tính đối xứng của cấu trúc tục ngữ

2.4.1. Cấu trúc đối xứng đơn

2.4.2. Cấu trúc đối xứng kép

2.5. Quan hệ từ trong cấu trúc tục ngữ

2.5.1. Một số quan hệ từ thường dùng trong tục ngữ

2.5.2. So sánh một số quan hệ từ trong tục ngữ về đạo lý tiếng Trung và tiếng Việt

2.6. Vần trong cấu trúc tục ngữ

2.6.1. Quan niệm về vần điệu trong tục ngữ

2.6.2. Cấu trúc vần trong tục ngữ về đạo lý trong tiếng Trung có so sánh với tiếng Việt

3. CHƯƠNG 3: NGỮ NGHĨA CỦA TỤC NGỮ VỀ ĐẠO LÝ TRONG TIẾNG TRUNG - CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT

3.1. Biểu trưng trong tục ngữ về đạo lý trong tiếng Trung và tiếng Việt

3.1.1. Định nghĩa biểu trưng

3.1.2. Những biểu trưng trong tục ngữ về đạo lý tiếng Trung và tiếng Việt

3.2. So sánh hình biểu trưng và nghĩa biểu trưng trong tục ngữ về đạo lý

3.3. Nghĩa đen và nghĩa bóng trong tục ngữ về đạo lý

3.3.1. Khái niệm về nghĩa đen và nghĩa bóng

3.3.2. So sánh nghĩa đen và nghĩa bóng trong tục ngữ về đạo lý

4. CHƯƠNG 4: BIỆN PHÁP TU TỪ CỦA TỤC NGỮ VỀ ĐẠO LÝ TRONG TIẾNG TRUNG - CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT

4.1. Biện pháp so sánh

4.1.1. So sánh theo mức độ

4.1.2. So sánh theo đối tượng

4.2. Biện pháp khoa trương

4.2.1. Khoa trương phóng to

4.2.2. Khoa trương thu nhỏ

4.3. Biện pháp nhân hóa

4.3.1. Nhân hóa con vật

4.3.2. Nhân hóa cây cối

4.3.3. Nhân hóa sự việc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tục Ngữ Đạo Lý Trung Việt Giá Trị Văn Hóa

Tục ngữ là kho tàng tri thức dân gian, phản ánh sâu sắc văn hóa và đạo lý của một dân tộc. Nghiên cứu tục ngữ Trung Quốc về đạo đức và so sánh với tục ngữ Việt Nam về đạo đức giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những giá trị cốt lõi được trân trọng trong hai nền văn hóa. Sự tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt đạo lý trong văn hóa Trung Quốcđạo lý trong văn hóa Việt Nam thể hiện những ảnh hưởng lịch sử, địa lý và triết học riêng biệt. Việc khám phá ý nghĩa tục ngữ Trung Quốc về đạo lý không chỉ là nghiên cứu ngôn ngữ mà còn là tìm hiểu về giá trị đạo đức trong tục ngữ và cách chúng được truyền tải qua các thế hệ.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Tục Ngữ Trong Văn Hóa Dân Gian

Tục ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức và truyền đạt kinh nghiệm sống. Chúng là những bài học ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày. Tục ngữ Hán Việt về đạo lý cũng góp phần làm phong phú thêm kho tàng tục ngữ Việt Nam, thể hiện sự giao thoa văn hóa lâu đời giữa hai nước. Theo nghiên cứu của Vương Bân, tục ngữ là "hóa thạch sống" của ngôn ngữ, kết tinh trí tuệ của con người.

1.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu So Sánh Tục Ngữ Đạo Lý Trung Việt

Nghiên cứu này tập trung vào việc so sánh tục ngữ Trung Quốc và Việt Nam về cấu trúc, ngữ nghĩa và biện pháp tu từ. Mục tiêu là làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong cách hai nền văn hóa thể hiện các giá trị đạo đức. Đồng thời, nghiên cứu cũng nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của Nho giáo đến tục ngữ Trung Quốc và Việt Nam, một yếu tố quan trọng trong việc hình thành hệ thống đạo đức của cả hai dân tộc.

II. Thách Thức Giải Mã Tục Ngữ Đạo Lý Ngữ Cảnh Văn Hóa

Việc giải mã tục ngữ Trung Quốc về đạo lý và so sánh với tục ngữ Việt Nam về đạo đức không phải lúc nào cũng dễ dàng. Ngữ cảnh sử dụng và yếu tố văn hóa có thể ảnh hưởng đến cách hiểu và diễn giải ý nghĩa của tục ngữ. Sự khác biệt về lịch sử, địa lý và phong tục tập quán giữa hai nước có thể dẫn đến những hiểu lầm hoặc sai lệch trong quá trình dịch thuật và so sánh. Do đó, cần phải có kiến thức sâu rộng về văn hóa và ngôn ngữ của cả hai nước để có thể giải mã tục ngữ một cách chính xác và đầy đủ.

2.1. Rào Cản Ngôn Ngữ Trong Dịch Thuật Tục Ngữ Đạo Lý

Dịch thuật tục ngữ Trung Quốc về đạo lý sang tiếng Việt đòi hỏi sự tinh tế và am hiểu sâu sắc về cả hai ngôn ngữ. Nhiều tục ngữ sử dụng hình ảnh, ẩn dụ hoặc điển tích văn hóa mà người Việt có thể không quen thuộc. Việc truyền tải chính xác ý nghĩa và sắc thái của tục ngữ gốc là một thách thức lớn đối với người dịch. Cần phải tìm ra những tương đương phù hợp trong tiếng Việt để đảm bảo rằng thông điệp đạo đức được truyền tải một cách hiệu quả.

2.2. Ảnh Hưởng Của Bối Cảnh Văn Hóa Đến Hiểu Tục Ngữ

Bối cảnh văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu ý nghĩa tục ngữ Trung Quốc về đạo lý. Một tục ngữ có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh sử dụng và quan điểm của người nghe. Cần phải xem xét các yếu tố như lịch sử, xã hội, tôn giáo và triết học để có thể hiểu rõ hơn về thông điệp đạo đức mà tục ngữ muốn truyền tải. Ví dụ, tục ngữ về hiếu thảo có thể có những sắc thái khác nhau trong văn hóa Trung Quốc và Việt Nam.

III. Phương Pháp So Sánh Tục Ngữ Trung Việt Cấu Trúc Ngữ Nghĩa

Để so sánh tục ngữ Trung Quốc và Việt Nam, cần áp dụng một phương pháp tiếp cận toàn diện, bao gồm phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa và biện pháp tu từ. Phân tích cấu trúc giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách thức tổ chức và diễn đạt ý tưởng trong tục ngữ. Phân tích ngữ nghĩa giúp chúng ta khám phá ý nghĩa sâu xa và thông điệp đạo đức mà tục ngữ muốn truyền tải. Phân tích biện pháp tu từ giúp chúng ta đánh giá tính nghệ thuật và sức biểu cảm của tục ngữ. Sự kết hợp của các phương pháp này sẽ giúp chúng ta có được một cái nhìn đầy đủ và sâu sắc về sự tương đồng và khác biệt giữa tục ngữ Trung Quốc và Việt Nam.

3.1. Phân Tích Cấu Trúc Của Tục Ngữ Đạo Lý Trung Việt

Cấu trúc của tục ngữ thường ngắn gọn, súc tích và dễ nhớ. Nhiều tục ngữ sử dụng cấu trúc đối xứng, vần điệu hoặc phép lặp để tăng tính biểu cảm và dễ truyền đạt. So sánh cấu trúc của tục ngữ Trung Quốc và Việt Nam giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách thức tổ chức và diễn đạt ý tưởng trong hai ngôn ngữ. Ví dụ, nhiều tục ngữ về đối nhân xử thế trong tiếng Trung có cấu trúc song hành, tương ứng với các tục ngữ về đối nhân xử thế tương tự trong tiếng Việt.

3.2. Nghiên Cứu Ngữ Nghĩa Và Biểu Tượng Trong Tục Ngữ

Ngữ nghĩa của tục ngữ thường mang tính biểu tượng và ẩn dụ. Nhiều tục ngữ sử dụng hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày để truyền tải những thông điệp đạo đức sâu sắc. So sánh ngữ nghĩa và biểu tượng trong tục ngữ Trung Quốc và Việt Nam giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những giá trị cốt lõi được trân trọng trong hai nền văn hóa. Ví dụ, hình ảnh cây tre trong tục ngữ Việt Nam tượng trưng cho sự kiên cường, bất khuất, trong khi hình ảnh con rồng trong tục ngữ Trung Quốc tượng trưng cho quyền lực và sự may mắn.

IV. Ứng Dụng Tục Ngữ Đạo Lý Giáo Dục Đời Sống Hiện Đại

Mặc dù xã hội ngày càng phát triển, tục ngữ Trung Quốc về đạo lýtục ngữ Việt Nam về đạo đức vẫn giữ nguyên giá trị trong việc giáo dục và định hướng hành vi của con người. Chúng là những bài học quý giá về đạo đức, nhân cách và cách sống mà chúng ta có thể áp dụng vào đời sống hiện đại. Việc tìm hiểu và truyền bá ý nghĩa tục ngữ Trung Quốc về đạo lýý nghĩa tục ngữ Việt Nam về đạo đức giúp chúng ta kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

4.1. Tục Ngữ Về Đạo Đức Trong Giáo Dục Thế Hệ Trẻ

Tục ngữ có thể được sử dụng như một công cụ giáo dục hiệu quả để truyền đạt những giá trị đạo đức cho thế hệ trẻ. Chúng là những bài học ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, có thể được tích hợp vào chương trình học hoặc sử dụng trong các hoạt động ngoại khóa. Ví dụ, tục ngữ về trung thực trong tiếng Trungtục ngữ về trung thực trong tiếng Việt có thể được sử dụng để giáo dục học sinh về tầm quan trọng của sự trung thực trong cuộc sống.

4.2. Áp Dụng Tục Ngữ Vào Giải Quyết Vấn Đề Xã Hội

Những bài học đạo đức trong tục ngữ có thể được áp dụng vào việc giải quyết các vấn đề xã hội hiện nay. Ví dụ, tục ngữ về tình bạn trong tiếng Trungtục ngữ về tình bạn trong tiếng Việt có thể được sử dụng để khuyến khích mọi người xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với nhau, góp phần tạo nên một cộng đồng đoàn kết và hòa thuận. Tục ngữ về gia đình trong tiếng Trungtục ngữ về gia đình trong tiếng Việt có thể được sử dụng để nhắc nhở mọi người về tầm quan trọng của gia đình và trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình.

V. Kết Luận Tục Ngữ Đạo Lý Cầu Nối Văn Hóa Trung Việt

Nghiên cứu tục ngữ Trung Quốc về đạo lý và so sánh với tục ngữ Việt Nam về đạo đức cho thấy sự tương đồng và khác biệt trong cách hai nền văn hóa thể hiện các giá trị đạo đức. Tục ngữ không chỉ là những câu nói dân gian mà còn là những cầu nối văn hóa, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nhau và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn. Việc tiếp tục nghiên cứu và truyền bá ý nghĩa tục ngữ Trung Quốc về đạo lýý nghĩa tục ngữ Việt Nam về đạo đức là rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời thúc đẩy sự giao lưu và hợp tác giữa hai nước.

5.1. Giá Trị Vĩnh Cửu Của Tục Ngữ Về Đạo Đức

Mặc dù xã hội có nhiều thay đổi, những giá trị đạo đức được thể hiện trong tục ngữ vẫn giữ nguyên tính thời sự và ý nghĩa. Tục ngữ về nhân nghĩa trong tiếng Trungtục ngữ về nhân nghĩa trong tiếng Việt vẫn là những bài học quý giá về cách sống và đối nhân xử thế. Tục ngữ về lễ phép trong tiếng Trungtục ngữ về lễ phép trong tiếng Việt vẫn là những lời khuyên hữu ích về cách giao tiếp và ứng xử trong xã hội.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Về Tục Ngữ Đạo Lý

Nghiên cứu về tục ngữ Trung Quốc về đạo lýtục ngữ Việt Nam về đạo đức vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển. Các nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc phân tích sâu hơn về ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa, lịch sử và xã hội đến sự hình thành và phát triển của tục ngữ. Đồng thời, cần có thêm các nghiên cứu so sánh về tục ngữ về thành công trong tiếng Trungtục ngữ về thành công trong tiếng Việt, tục ngữ về thất bại trong tiếng Trungtục ngữ về thất bại trong tiếng Việt để hiểu rõ hơn về quan niệm của hai dân tộc về thành công và thất bại.

06/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu của Đại Từ điển tục ngữ do học giả Ôn Đoan Chính chủ biên (2015) cóviết: “Cấu trúc của tục ngữ cótí nh cố định là tương nh linh hoạt, tí đối với linh hoạt. Trong bài viết Cấu trúc và ý nghĩa của tục ngữ tác giả Vương Cần (1998) đã viết: “Cấu trúc của câu tục ngữ chủ yếu làmột 5 câu ghép màdễ bị tỉnh lược quan hệ từ, với một vài từ, loại câu ngắn vànhiều thiếu sót. Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ ngữ nghĩa trong tiếng Trung Trong cuốn sách Ngạn ngữ của tác giả Ôn Đoan Chính (1985), ngữ nghĩa tục ngữ trong tiếng Trung bao gồm: 字面意义 (nghĩa mặt chữ) và 实际意义 (nghĩa thực tế). Nghĩa mặt chữ là nghĩa được suy ra trực tiếp từ những từ và quan hệ ngữ pháp bao hàm trong tục ngữ.

Nghĩa thực tế của tục ngữ chỉ nghĩa được sử dụng trong thực tế của tục ngữ. Nói chung là, nghĩa mặt chữ giống với cái gọi nghĩa đen trong tiếng Việt, nghĩa thực tế giống với cái gọi nghĩa bóng trong tiếng Việt. Trong bài viết Cấu trúc vàýnghĩa của tục ngữ tác giả Vương Cần (1998) đã đưa ra quan hệ ngữ nghĩa của tục ngữ là: “基本义 (nghĩa cơ bản) và引申 义 (nghĩa dẫn thân) là hai nghĩa của câu tục ngữ thường gặp. Nghĩa cơ bản (tiếng Việt được gọi là nghĩa đen) là ý nghĩa bề ngoài của câu tục ngữ, nghĩa dẫn thân (tiếng Việt được gọi là nghĩa bóng) là ý nghĩa sâu sắc của câu tục ngữ.

Hai loại nghĩa vừa thống nhất lại vừa đối lập với nhau, nhưng từ góc độ truyền đạt thông tin, nghĩa bóng mới làýchí nh của câu. Tì nh nghiên cứu tục ngữ từ góc độ biện pháp tu từ trong nh hì tiếng Trung Trong bài viết Bàn về biện pháp tu từ trong tục ngữ tiếng Trung, tác giả Phương Thủy Giao (2017) đã phân tích những câu tục ngữ từ ba khí a cạnh: các nguồn gốc của tục ngữ, các biện pháp tu từ của tục ngữ vàcác khí a cạnh ngữ âm của tục ngữ [90, tr. Vai tròcủa biện pháp tu từ làlàm cho những câu tục ngữ cóngữ nghĩa sống động, cấu trúc linh hoạt và đạo lýsâu sắc. Do đó, ngày càng nhiều tác phẩm văn học sử dụng những câu tục ngữ để dẫn dắt truyện, để miêu tả tí nh trong tác phẩm, để tăng nh cách của các nhân vật chí cường tí nh biểu cảm.

6 Trong bài viết Cấu trúc và ý nghĩa của tục ngữ, tác giả Vương Cần (1998), về biện pháp tu từ của tục ngữ đã viết rằng: “Tục ngữ cóchức năng độc đáo về biện pháp tu từ, nólàm cho ngôn ngữ sinh động, tinh tế vàbiểu cảm, ngôn ngữ trừu tượng được trực quan hóa, ngữ nghĩa thông thường được thúvị hóa, ngôn ngữ biểu đạt được mới mẻ hóa. Trong luận văn thạc sĩ Nghiên cứu biện pháp tu từ của tục ngữ trong tiếng Trung của Ngụy Sảng (2009), từ góc độ tu từ học tác giả đã tóm tắt vàphân tí ch các biện pháp tu từ về mặt ngữ âm, ngữ pháp vàtừ vựng của những câu tục ngữ trong tiếng Trung. Theo tác giả: “Biện pháp tu từ dựa trên sự phát triển tiếp nối, cách thức và phương pháp tu từ không có thay đổi căn bản, những thay đổi chí nh làsự thay thế từ khẩu ngữ và tăng giảm cấu trúc của câu nói. Như vậy, có thể nói thành tựu nghiên cứu tục ngữ tiếng Trung về hì nh thức, thể loại cũng như ngữ nghĩa là khá lớn.

Tuy nhiên phải thừa nhận, nghiên cứu về đạo lý là còn ít, đặc biệt là chưa được tổng kết, đánh giá. Tì nh hì nh nghiên cứu tục ngữ tại Việt Nam Ở Việt Nam, trước thế kỷ XIX, các tác phẩm văn học chữ Hán vàchữ Nôm đã có ít nhiều dấu vết của các tư tưởng dân gian vốn lànội dung của các nh Nam phong ngữ ngạn thi của tác giả Đình Thái vàĐại câu tục ngữ. Công trì Nam Quốc Túy của Ngô Giáp Đậu, đã sưu tầm, ghi chép tục ngữ bằng chữ Nôm, cóphần dịch tục ngữ chữ Nôm ra chữ Hán, cógiátrị khoa học về nghiên cứu tục ngữ tiếng Việt cóso sánh với tiếng Trung. Từ thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX đã xuất hiện các công trì nh nghiên cứu về tục ngữ như: cuốn Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của (1896), Việt Nam ngạn ngữ phương ngôn thơ của Phạm Quang Sán (1931), Tục ngữ và cách ngôn của Hàn Thái Dương (1920), An Nam tục ngữ của Vũ Như Lâm và 7 Nguyễn Đa Gia (1933), Ngạn ngữ phong dao của Nguyễn Can Mộng (1941) v.

Những công trình này chủ yếu làdừng lại mức thu thập, biên soạn vàcó thêm phần chúgiải tục ngữ, điều này rất cógiátrị về phương diện bảo tồn và n bản sắc ngôn ngữ văn hóa của dân tộc Việt Nam. Cùng thời kỳ này phải giữ gì kể đến công trì nh Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1928), đã tổng hợp vàgiới thiệu 6.500 câu tục ngữ vàthành ngữ. Cho đến nay công trì nh này vẫn được đánh giárất cao trong việc sưu tầm tục ngữ Việt Nam. Tuy nhiên, đây vẫn chỉ làmột công trình sưu tầm, chưa có sự nghiên cứu sâu về tục ngữ.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), có sự xuất hiện khánhiều các công trì nh nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam. Cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, của tác giả Vũ Ngọc Phan (2016), đã biên soạn vàtrì nh bày tách biệt phần tục ngữ và ca dao, đây là điểm mới so với các cách trì nh bày trước đây, tác giả Vũ Ngọc Phan đã cố gắng đi đến việc đưa ra những tiêu chí để phân biệt giữa thành ngữ với tục ngữ: “Tục ngữ làmột câu, tự nódiễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiêm., còn thành ngữ làmột phần câu cósẵn, làmột bộ phận của câu mà nhiều người quen dùng, nhưng tự nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn. Có thế thấy đây là những nhận định khámới mẻ so với nh trước đó, tuy những nhận định này còn mang tí những công trì nh khái quát, chưa cụ thể. Vìthế, các nhàngôn ngữ học trong quátrì nh nghiên cứu về tục ngữ đã chú trọng đi sâu tìm hiểu, đưa ra những tiêu chí phân định giữa thành ngữ vàtục ngữ.

Bên cạnh đó, việc sưu tầm biên soạn tục ngữ cũng được tiến hành thực hiện từ rất sớm. Được đánh giá cao là công trình sưu tầm nghiên cứu cónhiều đóng góp về học thuật: Tục ngữ Việt Nam của tập thể tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri (1975), đánh dấu một bước tiến về nghiên cứu, ngoài số lượng lớn những câu tục ngữ được sưu tầm còn cóphần tiểu luận về 8 tục ngữ Việt Nam. Ở phần này, Chu Xuân Diên đã đi sâu vào nhiều khí a cạnh khác nhau của tục ngữ, xét trên cả bì nh diện hì nh thức lẫn nội dung. Ngoài ra, ở phần tiểu luận ông đã dùng nhiều luận cứ để chứng minh rằng: Tục ngữ là một hiện tượng ý thức xãhội, và đã giới thiệu một số thành tựu chủ yếu của những người đi trước về các vấn đề nghiên cứu tục ngữ Việt Nam qua phần “Tiểu luận về tục ngữ”.

Đó là những nghiên cứu tục ngữ về mặt ngôn ngữ học, xãhội học vànhận thức luận. Ở công trì nh nghiên cứu: Tì m hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam tác giả Phan Thị Đào (1999) đã trình bày khá chi tiết vàhệ thống về thi pháp tục ngữ như: kết cấu, nhịp, vần, nghĩa v. Công trình này đã đưa ra định nghĩa bao quát về khái niệm thi pháp tục ngữ, khẳng định khả năng nhận thức, phản ánh hiện thực, khái quát hoá đời sống thẩm mỹ của con người trong tục ngữ Việt Nam. Những công trì nh nghiên cứu về tục ngữ càng ngày càng nhiều, còn có hàng loạt các bài nghiên cứu tục ngữ đăng trong các tạp chí : Ngôn ngữ, Ngôn ngữ và đời sống, Khoa học ngôn ngữ và văn hóa, Văn hóa dân gian v., cũng như một số luận án tiến sĩ nghiên cứu về tục ngữ.

Những công trì nh này không đơn thuần chỉ là sưu tầm vàchúgiải tục ngữ, màcòn tìm hiểu tục ngữ từ nhiều a cạnh, trong đó tục ngữ về đạo lýcũng được các tác giả đi sâu khai thác, khí nghiên cứu. Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ cấu trúc trong tiếng Việt Trong công trì nh Tục ngữ Việt Nam - cấu trúc và thi pháp của Nguyễn Thái Hòa (1997), đã lược thuật những kiến giải vàthành tựu nghiên cứu về phương diện lýthuyết của thể loại tục ngữ. Đây là bước đầu tài liệu đã đưa ra những kết luận khámới mẻ về tục ngữ ở góc độ ngôn ngữ học. Trong luận án tiến sĩ Đối chiếu cấu trúc - ngữ nghĩa tục ngữ tiếng Hán hiện đại vàtiếng Việt đã nhắc ở trên, tác giả Phạm Thanh Hằng (2010) cũng đã chútâm nghiên cứu so sánh cấu trúc vàngữ nghĩa tục ngữ tiếng Hán vàtiếng 9 Việt, đã được khảo sát cấu trúc cú pháp tục ngữ tiếng Hán vàtiếng Việt, và nhấn mạnh đến một số cấu trúc cú pháp đặc thùcủa tục ngữ, để tì m hiểu những nét tương đồng vàdị biệt về mặt cấu trúc tục ngữ của hai ngôn ngữ.

Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ ngữ nghĩa trong tiếng Việt Những vấn đề của ngữ nghĩa trong tục ngữ kháphức tạp. Các công trì nh m hiểu về nghĩa của tục ngữ từ góc độ tri nhận vànhận thức, đã thu hút được tì nhiều nhànghiên cứu quan tâm. Về cấu trúc ngữ nghĩa và mối quan hệ giữa chúng, trong công trì nh Tục ngữ Việt Nam, tác giả Chu Xuân Diên (1975) đã cho rằng: “Trong vốn tục ngữ của người Việt, bên cạnh những câu có một nghĩa là nghĩa đen, còn có rất nhiều câu có hai nghĩa là nghĩa đen và nghĩa bóng. Theo quan điểm của tác giả, nghĩa đen liên quan đến những vấn đề như cá biệt, tự nhiên, khi từ nghĩa đen chuyển sang nghĩa bóng, ngữ nghĩa thường được đề cập đến hiện tượng xãhội vàmang tính khái quát, thông qua những nhận xét, phán đoán.

Nhận xét này của Chu Xuân Diên được nhiều nhànghiên cứu thừa nhận t luận án đã tiếp cận theo hướng này. vàcókhông í Tác giả Phan Thị Đào (1999) trong công trình Tì m hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam đã có quan điểm rằng: “Tục ngữ có hai nghĩa là nghĩa đen (nghĩa hẹp) và nghĩa bóng (nghĩa rộng). Nghĩa đen nói về sự vật, về hiện tượng thiết thực màtục ngữ đề cập. Nghĩa bóng thì mở rộng ý nghĩa của sự vật, hiện tượng bằng cách gợi liên tưởng những hình tượng ẩn dụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ