Phần mở đầu của Đại Từ điển tục ngữ do học giả Ôn Đoan Chính chủ biên (2015) cóviết: “Cấu trúc của tục ngữ cótí nh cố định là tương nh linh hoạt, tí đối với linh hoạt. Trong bài viết Cấu trúc và ý nghĩa của tục ngữ tác giả Vương Cần (1998) đã viết: “Cấu trúc của câu tục ngữ chủ yếu làmột 5 câu ghép màdễ bị tỉnh lược quan hệ từ, với một vài từ, loại câu ngắn vànhiều thiếu sót. Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ ngữ nghĩa trong tiếng Trung Trong cuốn sách Ngạn ngữ của tác giả Ôn Đoan Chính (1985), ngữ nghĩa tục ngữ trong tiếng Trung bao gồm: 字面意义 (nghĩa mặt chữ) và 实际意义 (nghĩa thực tế). Nghĩa mặt chữ là nghĩa được suy ra trực tiếp từ những từ và quan hệ ngữ pháp bao hàm trong tục ngữ.
Nghĩa thực tế của tục ngữ chỉ nghĩa được sử dụng trong thực tế của tục ngữ. Nói chung là, nghĩa mặt chữ giống với cái gọi nghĩa đen trong tiếng Việt, nghĩa thực tế giống với cái gọi nghĩa bóng trong tiếng Việt. Trong bài viết Cấu trúc vàýnghĩa của tục ngữ tác giả Vương Cần (1998) đã đưa ra quan hệ ngữ nghĩa của tục ngữ là: “基本义 (nghĩa cơ bản) và引申 义 (nghĩa dẫn thân) là hai nghĩa của câu tục ngữ thường gặp. Nghĩa cơ bản (tiếng Việt được gọi là nghĩa đen) là ý nghĩa bề ngoài của câu tục ngữ, nghĩa dẫn thân (tiếng Việt được gọi là nghĩa bóng) là ý nghĩa sâu sắc của câu tục ngữ.
Hai loại nghĩa vừa thống nhất lại vừa đối lập với nhau, nhưng từ góc độ truyền đạt thông tin, nghĩa bóng mới làýchí nh của câu. Tì nh nghiên cứu tục ngữ từ góc độ biện pháp tu từ trong nh hì tiếng Trung Trong bài viết Bàn về biện pháp tu từ trong tục ngữ tiếng Trung, tác giả Phương Thủy Giao (2017) đã phân tích những câu tục ngữ từ ba khí a cạnh: các nguồn gốc của tục ngữ, các biện pháp tu từ của tục ngữ vàcác khí a cạnh ngữ âm của tục ngữ [90, tr. Vai tròcủa biện pháp tu từ làlàm cho những câu tục ngữ cóngữ nghĩa sống động, cấu trúc linh hoạt và đạo lýsâu sắc. Do đó, ngày càng nhiều tác phẩm văn học sử dụng những câu tục ngữ để dẫn dắt truyện, để miêu tả tí nh trong tác phẩm, để tăng nh cách của các nhân vật chí cường tí nh biểu cảm.
6 Trong bài viết Cấu trúc và ý nghĩa của tục ngữ, tác giả Vương Cần (1998), về biện pháp tu từ của tục ngữ đã viết rằng: “Tục ngữ cóchức năng độc đáo về biện pháp tu từ, nólàm cho ngôn ngữ sinh động, tinh tế vàbiểu cảm, ngôn ngữ trừu tượng được trực quan hóa, ngữ nghĩa thông thường được thúvị hóa, ngôn ngữ biểu đạt được mới mẻ hóa. Trong luận văn thạc sĩ Nghiên cứu biện pháp tu từ của tục ngữ trong tiếng Trung của Ngụy Sảng (2009), từ góc độ tu từ học tác giả đã tóm tắt vàphân tí ch các biện pháp tu từ về mặt ngữ âm, ngữ pháp vàtừ vựng của những câu tục ngữ trong tiếng Trung. Theo tác giả: “Biện pháp tu từ dựa trên sự phát triển tiếp nối, cách thức và phương pháp tu từ không có thay đổi căn bản, những thay đổi chí nh làsự thay thế từ khẩu ngữ và tăng giảm cấu trúc của câu nói. Như vậy, có thể nói thành tựu nghiên cứu tục ngữ tiếng Trung về hì nh thức, thể loại cũng như ngữ nghĩa là khá lớn.
Tuy nhiên phải thừa nhận, nghiên cứu về đạo lý là còn ít, đặc biệt là chưa được tổng kết, đánh giá. Tì nh hì nh nghiên cứu tục ngữ tại Việt Nam Ở Việt Nam, trước thế kỷ XIX, các tác phẩm văn học chữ Hán vàchữ Nôm đã có ít nhiều dấu vết của các tư tưởng dân gian vốn lànội dung của các nh Nam phong ngữ ngạn thi của tác giả Đình Thái vàĐại câu tục ngữ. Công trì Nam Quốc Túy của Ngô Giáp Đậu, đã sưu tầm, ghi chép tục ngữ bằng chữ Nôm, cóphần dịch tục ngữ chữ Nôm ra chữ Hán, cógiátrị khoa học về nghiên cứu tục ngữ tiếng Việt cóso sánh với tiếng Trung. Từ thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX đã xuất hiện các công trì nh nghiên cứu về tục ngữ như: cuốn Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của (1896), Việt Nam ngạn ngữ phương ngôn thơ của Phạm Quang Sán (1931), Tục ngữ và cách ngôn của Hàn Thái Dương (1920), An Nam tục ngữ của Vũ Như Lâm và 7 Nguyễn Đa Gia (1933), Ngạn ngữ phong dao của Nguyễn Can Mộng (1941) v.
Những công trình này chủ yếu làdừng lại mức thu thập, biên soạn vàcó thêm phần chúgiải tục ngữ, điều này rất cógiátrị về phương diện bảo tồn và n bản sắc ngôn ngữ văn hóa của dân tộc Việt Nam. Cùng thời kỳ này phải giữ gì kể đến công trì nh Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1928), đã tổng hợp vàgiới thiệu 6.500 câu tục ngữ vàthành ngữ. Cho đến nay công trì nh này vẫn được đánh giárất cao trong việc sưu tầm tục ngữ Việt Nam. Tuy nhiên, đây vẫn chỉ làmột công trình sưu tầm, chưa có sự nghiên cứu sâu về tục ngữ.
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), có sự xuất hiện khánhiều các công trì nh nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam. Cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, của tác giả Vũ Ngọc Phan (2016), đã biên soạn vàtrì nh bày tách biệt phần tục ngữ và ca dao, đây là điểm mới so với các cách trì nh bày trước đây, tác giả Vũ Ngọc Phan đã cố gắng đi đến việc đưa ra những tiêu chí để phân biệt giữa thành ngữ với tục ngữ: “Tục ngữ làmột câu, tự nódiễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiêm., còn thành ngữ làmột phần câu cósẵn, làmột bộ phận của câu mà nhiều người quen dùng, nhưng tự nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn. Có thế thấy đây là những nhận định khámới mẻ so với nh trước đó, tuy những nhận định này còn mang tí những công trì nh khái quát, chưa cụ thể. Vìthế, các nhàngôn ngữ học trong quátrì nh nghiên cứu về tục ngữ đã chú trọng đi sâu tìm hiểu, đưa ra những tiêu chí phân định giữa thành ngữ vàtục ngữ.
Bên cạnh đó, việc sưu tầm biên soạn tục ngữ cũng được tiến hành thực hiện từ rất sớm. Được đánh giá cao là công trình sưu tầm nghiên cứu cónhiều đóng góp về học thuật: Tục ngữ Việt Nam của tập thể tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri (1975), đánh dấu một bước tiến về nghiên cứu, ngoài số lượng lớn những câu tục ngữ được sưu tầm còn cóphần tiểu luận về 8 tục ngữ Việt Nam. Ở phần này, Chu Xuân Diên đã đi sâu vào nhiều khí a cạnh khác nhau của tục ngữ, xét trên cả bì nh diện hì nh thức lẫn nội dung. Ngoài ra, ở phần tiểu luận ông đã dùng nhiều luận cứ để chứng minh rằng: Tục ngữ là một hiện tượng ý thức xãhội, và đã giới thiệu một số thành tựu chủ yếu của những người đi trước về các vấn đề nghiên cứu tục ngữ Việt Nam qua phần “Tiểu luận về tục ngữ”.
Đó là những nghiên cứu tục ngữ về mặt ngôn ngữ học, xãhội học vànhận thức luận. Ở công trì nh nghiên cứu: Tì m hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam tác giả Phan Thị Đào (1999) đã trình bày khá chi tiết vàhệ thống về thi pháp tục ngữ như: kết cấu, nhịp, vần, nghĩa v. Công trình này đã đưa ra định nghĩa bao quát về khái niệm thi pháp tục ngữ, khẳng định khả năng nhận thức, phản ánh hiện thực, khái quát hoá đời sống thẩm mỹ của con người trong tục ngữ Việt Nam. Những công trì nh nghiên cứu về tục ngữ càng ngày càng nhiều, còn có hàng loạt các bài nghiên cứu tục ngữ đăng trong các tạp chí : Ngôn ngữ, Ngôn ngữ và đời sống, Khoa học ngôn ngữ và văn hóa, Văn hóa dân gian v., cũng như một số luận án tiến sĩ nghiên cứu về tục ngữ.
Những công trì nh này không đơn thuần chỉ là sưu tầm vàchúgiải tục ngữ, màcòn tìm hiểu tục ngữ từ nhiều a cạnh, trong đó tục ngữ về đạo lýcũng được các tác giả đi sâu khai thác, khí nghiên cứu. Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ cấu trúc trong tiếng Việt Trong công trì nh Tục ngữ Việt Nam - cấu trúc và thi pháp của Nguyễn Thái Hòa (1997), đã lược thuật những kiến giải vàthành tựu nghiên cứu về phương diện lýthuyết của thể loại tục ngữ. Đây là bước đầu tài liệu đã đưa ra những kết luận khámới mẻ về tục ngữ ở góc độ ngôn ngữ học. Trong luận án tiến sĩ Đối chiếu cấu trúc - ngữ nghĩa tục ngữ tiếng Hán hiện đại vàtiếng Việt đã nhắc ở trên, tác giả Phạm Thanh Hằng (2010) cũng đã chútâm nghiên cứu so sánh cấu trúc vàngữ nghĩa tục ngữ tiếng Hán vàtiếng 9 Việt, đã được khảo sát cấu trúc cú pháp tục ngữ tiếng Hán vàtiếng Việt, và nhấn mạnh đến một số cấu trúc cú pháp đặc thùcủa tục ngữ, để tì m hiểu những nét tương đồng vàdị biệt về mặt cấu trúc tục ngữ của hai ngôn ngữ.
Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ ngữ nghĩa trong tiếng Việt Những vấn đề của ngữ nghĩa trong tục ngữ kháphức tạp. Các công trì nh m hiểu về nghĩa của tục ngữ từ góc độ tri nhận vànhận thức, đã thu hút được tì nhiều nhànghiên cứu quan tâm. Về cấu trúc ngữ nghĩa và mối quan hệ giữa chúng, trong công trì nh Tục ngữ Việt Nam, tác giả Chu Xuân Diên (1975) đã cho rằng: “Trong vốn tục ngữ của người Việt, bên cạnh những câu có một nghĩa là nghĩa đen, còn có rất nhiều câu có hai nghĩa là nghĩa đen và nghĩa bóng. Theo quan điểm của tác giả, nghĩa đen liên quan đến những vấn đề như cá biệt, tự nhiên, khi từ nghĩa đen chuyển sang nghĩa bóng, ngữ nghĩa thường được đề cập đến hiện tượng xãhội vàmang tính khái quát, thông qua những nhận xét, phán đoán.
Nhận xét này của Chu Xuân Diên được nhiều nhànghiên cứu thừa nhận t luận án đã tiếp cận theo hướng này. vàcókhông í Tác giả Phan Thị Đào (1999) trong công trình Tì m hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam đã có quan điểm rằng: “Tục ngữ có hai nghĩa là nghĩa đen (nghĩa hẹp) và nghĩa bóng (nghĩa rộng). Nghĩa đen nói về sự vật, về hiện tượng thiết thực màtục ngữ đề cập. Nghĩa bóng thì mở rộng ý nghĩa của sự vật, hiện tượng bằng cách gợi liên tưởng những hình tượng ẩn dụ.