Tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm về mối quan hệ tự nhiên, con người và xã hội

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh tư tưởng nguyễn bỉnh khiêm về mối quan hệ tự nhiên con người xã hộivà ý nghĩa của nó đối với, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2010

98
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491 - 1585)

1.1. Những điều kiện khách quan

1.2. Điều kiện chủ quan

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ “TỰ NHIÊN – CON NGƯỜI – XÃ HỘI” CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

2.1. Nội dung quan niệm Nguyễn Bỉnh Khiêm về mối quan hệ “Tự nhiên - con người - xã hội”

2.2. Quan niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm về vị thế của con người trong lối ứng xử với thiên nhiên

2.3. Ý nghĩa của tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với việc xây dựng đạo đức sinh thái cho người Việt Nam hiện nay

2.3.1. Một số khái niệm đạo đức sinh thái và thực trạng sinh thái hiện nay ở Việt Nam

2.3.2. Vận dụng tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm trong xây dựng đạo đức sinh thái cho người Việt Nam ta hiện nay

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm trong đạo đức Việt Nam

Tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một phần quan trọng trong di sản văn hóa Việt Nam. Ông không chỉ là một nhà thơ mà còn là một nhà triết học, người đã để lại nhiều giá trị tư tưởng sâu sắc về mối quan hệ giữa tự nhiên, con ngườixã hội. Tư tưởng của ông phản ánh sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, đồng thời nhấn mạnh vai trò của đạo đức trong việc xây dựng xã hội. Những quan điểm này vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay, khi mà vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đang trở thành những thách thức lớn.

1.1. Tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm đã xây dựng một hệ thống tư tưởng triết học phong phú, trong đó nhấn mạnh mối quan hệ giữa tự nhiêncon người. Ông cho rằng con người không thể tách rời khỏi thiên nhiên, và sự phát triển của xã hội phải dựa trên sự tôn trọng và bảo vệ môi trường. Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm thơ văn của ông.

1.2. Ý nghĩa của tư tưởng đối với đạo đức Việt Nam

Tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm có ý nghĩa sâu sắc trong việc xây dựng đạo đức Việt Nam hiện đại. Ông nhấn mạnh rằng đạo đức không chỉ là trách nhiệm của cá nhân mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Những giá trị này cần được kế thừa và phát huy trong xã hội ngày nay.

II. Vấn đề mối quan hệ tự nhiên và xã hội trong tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm

Mối quan hệ giữa tự nhiênxã hội trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện qua nhiều khía cạnh. Ông cho rằng con người cần sống hòa hợp với thiên nhiên, và sự phát triển của xã hội không thể tách rời khỏi sự bảo vệ môi trường. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi mà các vấn đề về ô nhiễm và biến đổi khí hậu đang ngày càng nghiêm trọng.

2.1. Quan niệm về sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên

Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhấn mạnh rằng con người cần phải sống hòa hợp với thiên nhiên. Ông cho rằng thiên nhiên không chỉ là nguồn tài nguyên mà còn là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Sự tôn trọng thiên nhiên sẽ dẫn đến sự phát triển bền vững của xã hội.

2.2. Thách thức trong việc bảo vệ môi trường hiện nay

Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo vệ môi trường đang trở thành một thách thức lớn. Những quan điểm của Nguyễn Bỉnh Khiêm về mối quan hệ giữa tự nhiênxã hội có thể giúp định hướng cho các chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Cần có những biện pháp cụ thể để thực hiện những tư tưởng này trong thực tiễn.

III. Phương pháp xây dựng đạo đức sinh thái từ tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm

Để xây dựng đạo đức sinh thái cho con người Việt Nam hiện nay, cần vận dụng những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông đã chỉ ra rằng việc bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của cá nhân mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Các giá trị đạo đức cần được lồng ghép vào giáo dục và các hoạt động cộng đồng.

3.1. Giáo dục đạo đức sinh thái trong nhà trường

Giáo dục đạo đức sinh thái cần được đưa vào chương trình học tại các trường học. Việc này không chỉ giúp học sinh nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường mà còn hình thành những thói quen tốt trong cuộc sống hàng ngày.

3.2. Vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường

Cộng đồng cần có những hoạt động cụ thể để bảo vệ môi trường, như tổ chức các chiến dịch dọn dẹp, trồng cây xanh, và tuyên truyền về bảo vệ môi trường. Những hoạt động này không chỉ nâng cao ý thức cộng đồng mà còn tạo ra sự gắn kết giữa các thành viên trong xã hội.

IV. Ứng dụng thực tiễn tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm trong xã hội hiện đại

Tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực trong xã hội hiện đại. Từ việc xây dựng chính sách bảo vệ môi trường đến việc phát triển bền vững, những giá trị mà ông để lại vẫn còn nguyên giá trị. Cần có những nghiên cứu và ứng dụng cụ thể để phát huy những giá trị này.

4.1. Chính sách bảo vệ môi trường dựa trên tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Các chính sách bảo vệ môi trường cần được xây dựng dựa trên những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Điều này sẽ giúp tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho thế hệ tương lai và đảm bảo sự phát triển bền vững cho đất nước.

4.2. Phát triển bền vững trong bối cảnh hiện nay

Phát triển bền vững là một trong những mục tiêu quan trọng của xã hội hiện đại. Những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể giúp định hướng cho các chiến lược phát triển bền vững, từ đó tạo ra một xã hội hài hòa giữa con người và thiên nhiên.

V. Kết luận về tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm và tương lai của đạo đức Việt Nam

Tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm về mối quan hệ giữa tự nhiên, con ngườixã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng đạo đức Việt Nam hiện nay. Những giá trị mà ông để lại cần được kế thừa và phát huy trong bối cảnh hiện đại. Việc áp dụng những tư tưởng này vào thực tiễn sẽ giúp tạo ra một xã hội bền vững và hài hòa.

5.1. Tầm quan trọng của việc kế thừa tư tưởng

Việc kế thừa tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm là cần thiết để xây dựng một nền tảng đạo đức vững chắc cho xã hội. Những giá trị này sẽ giúp định hướng cho các thế hệ tương lai trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

5.2. Hướng tới một tương lai bền vững

Tương lai của đạo đức Việt Nam cần được xây dựng dựa trên những giá trị truyền thống và tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Điều này sẽ giúp tạo ra một xã hội phát triển bền vững, hài hòa giữa con người và thiên nhiên.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh tư tưởng nguyễn bỉnh khiêm về mối quan hệ tự nhiên con người xã hộivà ý nghĩa của nó đối với đạo đức con người việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Những tiền đề cho sự hình thành tƣ tƣởng Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) gồm 2 tiết. Nội dung và ý nghĩa của quan niệm về mối quan hệ “Tự nhiên – con ngƣời – xã hội” trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm gồm 2 tiết. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491 - 1585) 1.

Những điều kiện khách quan Xét đến cùng thì tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, do đó Các Mác khẳng định: Mọi tƣ tƣởng cho dù có vĩ đại đến đâu cũng xuất phát từ thực tế xã hội và trở lại phục vụ xã hội ấy. Vì vậy để hiểu tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta phải tìm hiểu các điều kiện khách quan ảnh hưởng đến sự hình thành các tư tưởng này. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585) sống gần trọn thế kỷ XVI, sinh quán tại làng Trung Am, Huyện Vĩnh Lại (nay là xã Cổ Am, Huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng). Vĩnh Bảo là vùng đất tích hợp bởi các yếu tố: đồng ruộng, kênh rạch… Các điều kiện tự nhiên trên đã góp phần ảnh hưởng đến sự phong phú trong tư duy Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Hơn nữa, thế kỷ XVI là thế kỷ đầy biến động, một hiện tượng chưa có tiền lệ trong lịch sử, nó giống như khúc chuyển mình trong tiến trình lịch sử sử Việt Nam. Tất cả các điều kiện khách quan đó, đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhà tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chính trị - xã hội Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra khi thời cực thịnh của nhà Lê đã qua, chuyển sang thời kỳ suy thoái. Bao trùm xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XVI là nạn bao chiếm ruộng đất công và sự sa sút của nền sản xuất nông nghiệp, thay vì chính sách quân điền của Lê Thái tổ (chia ruộng đất cho dân làng theo số lƣợng khẩu khác nhau) là tình trạng các thế lực phong kiến công khai chiếm đoạt ruộng đất công các làng xã, chẳng hạn vào năm Canh Ngọ (1510) dưới triều Lê Oanh - Lê Tương Dực quy định: Phàm các hạng ruộng đất, bãi dâu, …chƣa vào sổ quan, cho quan Thái bộc làm bản tâu lên.

làm sắc cấp cho các công, hầu, bá theo thứ bậc khác nhau [22, tr. Thêm vào đó, thời kỳ này thuế khóa nặng nề. Trong các đời Uy Mục (1505 – 1509) và Tương Dực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 (1509 – 1516) cùng với việc hỗn chiến giữa các phe cánh, kinh tế nông nghiệp còn trở nên sa sút. Kết quả là năm Đinh Sửu (1517) trong nƣớc đói to nhân dân chết đói nằm gối lên nhau.

Các đời sau đó vua Uy Mục (con thứ của Hiến Tông) thì ăn chơi sa đoạ, sử cũ chép rằng: Vua thích uống rƣợu, hay giết ngƣời; hiếu sắc làm oai, giết hại ngƣời tôn thất, giết ngầm tổ mẫu, họ ngoại chuyên quyền, trăm họ căm oán. Tương Dực giết Uy Mục cướp ngôi vào năm Kỷ Tỵ (1509), nhưng Tương Dực cũng đồi bại không kém làm cho xã hội càng thêm tiêu điều. Sử sách còn ghi: Vua Tƣơng Dực ăn chơi xa xỉ tột bậc, bắt nhân dân phục dịch, làm nhiều thổ mộc, thuế khóa nặng nề, nạn đói triền miên, đời sống nhân dân điêu đứng, khiến nông dân khởi nghĩa ở nhiều nơi. Trước tình trạng trên các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra, tiêu biểu ở thời kỳ này là cuộc khởi nghĩa của Trần Cảo (1516 - 1521).

Những người dân cày thì chỉ biết hồi tưởng về một thời đã qua : “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Thóc, lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn” Trong khi đó, triều đình có dấu hiệu rạn nứt, hai phe cánh rõ rệt mọc lên: Nội cung là Trịnh Duy Sản, bản thân Sản là một võ tướng chỉ huy quân Cấm vệ, đại diện cho họ ngoại chuyên quyền; Ngoại cung là Nguyễn Hoằng Dụ phòng thủ kinh thành. Tuy nhiên, trước sức mạnh của Trần Cảo cả họ Trịnh và họ Nguyễn đều tạm ngừng việc tranh chấp, để cùng đối phó. Như vậy, đến lúc này chế độ quân chủ nhà Lê với việc liên tiếp phế vua, hỗn chiến giữa các phe cánh quân chủ khiến người dân bị đẩy đến bên bờ vực thẳm. Sự khủng hoảng chính trị - xã hội trầm trọng ấy đã tạo điều kiện khách quan cho phái Mạc Đăng Dung từng bước đứng lên vũ đài chính trị để lật nhà Lê, lập ra nhà Mạc.

Mạc Đăng Dung vốn có sức khỏe tốt nên dưới thời Uy Mục tuyển dũng sĩ ông đã dự thi môn đánh vật và trúng Đô lực sĩ xuất thân, sau đó được bổ sung vào đội quân Túc vệ cầm dù theo vua. Nhờ được gần vua nên tháng 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 năm Mậu Thìn (1508), Mạc Đăng Dung được phong chức Đô chỉ huy sứ ty, đến năm Hồng Thuận thứ 3 (1511), Đô chỉ huy sứ được phong Vũ Xuyên bá khi ông 29 tuổi. Nhờ có uy tín với nhà vua trong việc đánh dẹp và mưu kế trừ khử những kẻ tà thuật, phản nghịch, Mạc Đăng Dung được phong chức Vũ Xuyên Hầu. Kể từ đây Mạc Đăng Dung ra sức chỉnh đốn quân ngũ, đồng thời gièm pha kích động vua trừ khử những đối trọng bất lợi cho mình như Trần Chân… Càng ngày Dung càng được vua tin tưởng giao nhiều quyền, từ Vũ Xuyên Hầu lần lượt được phong các chức Đề thống doanh quân thủy và bộ, rồi Minh quận công.

Để thâu tóm quân đội vào tay mình Dung bàn với người thông gia của mình là Phạm Gia Mô là quan Thượng Thư Bộ Lễ dâng tờ thảo thay đổi tổ chức quân đội và bổ nhiệm Dung làm Tiết chế tổng quân thủy và bộ. Từ đây binh quyền trong tay Mạc Đăng Dung, thậm chí như rồng được chắp cánh, vua còn phong cho Dung chức Thái Phó. Do nắm được binh quyền trong tay từ đấy Mạc Đăng Dung chuyên quyền lấn át cả vua, một mình xử đoán mọi việc, quần thần không ai dám chống đối. Thêm vào đó, Dung còn có công đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa ở Lạng Nguyên, Đông Ngàn….

Lúc này, lòng người đã mệt mỏi với triều Lê, ai ai cũng hy vọng vào Mạc Đăng Dung, vì thế Mạc Đăng Dung càng chú tâm đến việc chiếm ngôi vua. Kết quả là năm Đinh Hợi 1527, Mạc Đăng Dung làm cuộc đảo chính lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thống Nguyên năm thứ nhất. Ngay sau khi lên ngôi Hoàng đế, nhằm thiết lập vị thế chính danh của vương triều mới, Mạc Đăng Dung đã ban lệnh đại xá thiên hạ, cho đổi họ một số cựu thần nhà Lê sang họ Mạc, ban phong các chức tước cho 56 cựu thần nhà Lê theo mình, đồng thời thi hành những chính sách đối nội, đối ngoại riêng, ít nhiều thể hiện được sự độc lập, tự chủ. Trong nội triều, chính thể quân chủ của nhà Mạc tôn trọng tuyệt đối trật tự sự nối dõi theo nguyên tắc: lập con trưởng làm vua và theo dòng đích.

Có lẽ vì thế mà trong thời gian cầm quyền dưới góc độ này Triều Mạc tương đối ổn định, vững vàng so với cuối triều Lê sơ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Về chính trị, cơ bản triều Mạc vẫn thực hiện cách thức quản lý hành chính, luật pháp dựa theo mô hình của nhà Lê, mặt khác trong cách thức quản lý xã hội thời Mạc có một số điểm thông thoáng hơn như: Thay vì quản lý hành chính ngặt nghèo từ trung ương đến địa phương, triều đình nới lỏng và tăng tính tự quản của các làng xã với những lệ tục khác nhau. Trong các chính sách đối nội: Để trấn áp nhân dân và đối phó các thế lực thù địch, nhà Mạc rất chú trọng đến xây dựng quân đội, ngoài các đội quân ở phủ cũ như thời Lê, triều Mạc còn xây dựng các phủ mới ở Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh… chia bổ các ty, mỗi ty có một Chỉ huy sứ nhằm tạo thế phòng thủ vững chắc. Thêm vào đó, Triều Mạc còn chú ý thúc đẩy phát triển kinh tế, nhất là nông nghiệp, vì thế đã phần nào làm cho an ninh ổn định, đời sống nhân dân bớt cực khổ.

Chính sử nhà Lê Trung Hưng cũng phải chép rằng: “… thời ấy ngƣời đi đƣờng đều đi tay không, ban đêm không có trộm cƣớp, trâu bò thả chăn không phải mang về, mỗi tháng chỉ kiểm soát một lần hoặc sinh sản cũng không thể biết là của mình. Trong khoảng vài năm, đƣờng xá không nhặt của rơi, cổng ngoài không đóng, trong cõi tam yên” [11, tr. Về đối ngoại, trước mối đe doạ xâm lược của đế chế Minh phương Bắc, kể từ khi xã hội Đại Việt diễn ra những chính biến phức tạp dẫn đến sự chiếm ngôi của nhà Mạc, nhà Minh không ngừng theo dõi tình hình và muốn thâu tóm Đại Việt, lúc này một mặt nhà Minh muốn đem quân chinh phạt Mạc, mặt khác lại do dự vì đang gặp khó khăn trong nước cả về chính trị lẫn kinh tế…., nhưng cuối cùng nhà Minh cũng cho hai tướng Cừu Loan và Mao Bá Ôn chinh phạt Đại Việt. Trước tình hình trên Mạc Đăng Dung dâng biểu xin tạ tội, cầu ban ấn tín, trong biểu có ba nội dung cơ bản: Thứ nhất, viện vì lý do tuổi già Mạc Đăng Dung không sang Bắc Kinh xin hàng; thứ hai, nộp bốn động cho nhà Minh; thứ ba, đề nghị nhà Minh ban cho Ấn tín.

Bản sớ được chấp nhận, nhưng Mạc Đăng Dung chỉ được phong chức An nam Đô thống sứ, được cấp ấn bạc (năm 1541). Với sự kiện trên nhà Minh chính thức thừa nhận sự thay thế nhà Lê bởi nhà Mạc trên đất Đại Việt. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Mặc dù có nhiều cố gắng đem lại sự khởi sắc cho nước nhà, song triều Mạc ra đời trong một khung cảnh đặc biệt, một mặt chiến tranh loạn lạc liên miên không có cơ sở vững chắc thật sự cho một nhà nước quân chủ tập quyền. Mặt khác, việc Mạc Đăng Dung lật đổ vua Lê đã gây nên mâu thuẫn đối địch với tầng lớp cựu thần nhà Lê mà người đứng đầu là Nguyễn Kim với danh nghĩa lập vua mới phục hưng triều Lê.

Kim kêu gọi quần thần và nhân dân chống lại Mạc Đăng Dung, do đó năm 1533 sự nghiệp Trung Hưng của nhà Lê bắt đầu, lập căn cứ địa ở miền Thanh – Nghệ. Cũng từ đây xung đột đã xảy ra, nhân dân bị lôi vào cuộc hỗn chiến tàn khốc trong cuộc tranh giành quyền lực của các thế lực phong kiến với hai triều đối chọi mà sử quen gọi là Nam triều (Lê Trung Hưng) – Bắc triều (Mạc), cuộc chiến diễn ra từ 1533 – 1592.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ