Lời mở đầu của Bản Tuyên ngôn ghi rõ: Xét rằng việc công nhận nhân phẩm bẩm sinh của mọi người, thành viên của đại gia đình nhân loại, cùng sự công nhận quyền bình đẳng, bất khả nhượng, đó là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới. Xét rằng những hành động sao nhãng, khinh miệt và chà đạp những quyền căn bản của con người là những hành động man dại, đi ngược lại lương tâm, lương tri của nhân loại; và một thế giới mà trong đó, mọi ngừơi đều được tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, và không bị đe dọa bởi nghèo đói, thế giới đó phải được coi là ước vọng cao cả của nhân loại. Vậy, chúng ta phải thừa nhận tự do là quyền căn bản, bẩm sinh của con người, không phân biệt trai gái, không phân biệt chủng tộc. Theo một số học giả tư sản, trong những quyền căn bản đó có hai quyền quan trọng, là hai trụ cột của chế độ dân chủ, đó là quyền tự do ngôn luận và tự do bầu cử.
Nói như Voltaire: “Tự do ngôn luận là linh hồn của chế độ dân chủ”. Hồ Chí Minh cũng đã nêu thấu triệt tinh thần ấy trong một luận đề đầy sức thuyết phục: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Khi đã tìm thấy chân lý rồi thì quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý” [34, tr.
Theo tinh thần quyển Contrat Social (Khế ước xã hội) của J. Rousseau và Bản Tuyên ngôn Độc lập (Hoa Kỳ) mà người soạn thảo chính là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Thomas Jefferson, thì quyền tự do bầu cử là hành động đầu tiên tạo dựng nên dân chủ. Qua phân tích ở trên, tiêu chuẩn về quyền con người trong đó có quyền bầu cử là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại của một nền dân chủ. Tuy nhiên, hiện nay, có rất nhiều ý kiến nhất trí cho rằng, một nền dân chủ muốn hình thành và hoàn thiện còn phải dựa vào một số điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội nhất định: Kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, trình độ dân trí, văn hoá của người dân v.
Về điều kiện kinh tế: Cần có một nền kinh tế ổn định và phát triển [20, tr. Kinh tế và chính trị gắn bó mật thiết với nhau và mỗi chế độ chính trị chỉ có thể phù hợp với một số thể chế kinh tế và thể chế kinh tế ảnh hưởng đến quá trình phát triển của xã hội tự do. Mặt khác, tự do kinh tế là phương tiện của tự do chính trị vì thể chế kinh tế có ảnh hưởng đến việc tập trung và phân tán quyền lực. Nhiều nhà khoa học đã coi tự do kinh tế và sở hữu tư nhân là cơ sở của nền dân chủ [65].
Có thể nói rằng, sự phát triển kinh tế đảm bảo cho triển vọng của nền dân chủ, đến hành vi, quan điểm của công dân, tạo ra các khả năng để nâng cao trình độ văn hoá, chính trị của toàn xã hội. Sự phát triển kinh tế là điều kiện cơ bản và cần thiết cho việc kiến tạo một nền dân chủ. Nhưng mặt khác cũng cần thấy rằng, việc xây dựng một nền dân chủ không phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện kinh tế. Kinh tế tạo điều kiện để xây dựng dân chủ, nhưng dân chủ cũng tạo điều kiện cho phát triển kinh tế.
Cũng cần thấy rằng, dân chủ đã tạo điều kiện phân phối công bằng hơn phúc lợi xã hội, nhờ vậy, kích thích sự phát triển kinh tế. Mối quan hệ nhân - quả ở đây là tương đối và có thể chuyển đổi cho nhau. Chúng ta đã biết, kinh tế có ý nghĩa quyết định cuối cùng đối với chính trị và chính trị có ý nghĩa quyết định trực tiếp cho phát triển kinh tế. Nguyên lý ấy cũng đúng trong trường hợp thiết lập một chế độ dân chủ.
Nhận thức đúng vấn đề có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn. Bởi không ít người chưa thấy được tính tích cực của dân chủ trong phát triển kinh tế, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 muốn chờ đợi cho đến khi có điều kiện kinh tế phát triển cao mới xây dựng dân chủ. Bên cạnh điều kiện kinh tế, dân trí, văn hoá cũng là những tiền đề tạo nên một môi trường để dân chủ phát triển. Do vậy, để nâng cao dân trí và tăng cường vốn văn hoá cho người dân thì giáo dục, tuyên truyền là một trong những điều kiện quan trọng đối với dân chủ vì hiểu biết dân chủ và ứng xử dân chủ là kết quả của việc giáo dục nhận thức.
Từ kết quả của giáo dục và nhận thức về dân chủ, lý tưởng dân chủ phải trở thành những cam kết có tính chất nguyên tắc để thực hiện. Sự dung thứ những tư tưởng, quan điểm khác biệt, thậm chí đối lập cũng rất cần thiết cho sự tồn tại của dân chủ. Việc nâng cao trình độ văn hoá, dân trí cho nhân dân là nhân tố cơ bản để thực hiện dân chủ bởi vì dân chủ là biểu hiện của trình độ văn hoá chính trị, có quan hệ mật thiết với trình độ dân trí, văn hoá nói chung. Chỉ khi nào người dân tự giác nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình, tự giác tham gia vào công việc nhà nước, công việc xã hội, hoạt động với tư cách là công dân có tri thức, văn hoá thì mới thực sự có điều kiện thực hiện dân chủ.
“Mù chữ đứng ngoài chính trị” (V. Lenin), ít hiểu biết cũng làm hạn chế sự tham gia vào đời sống chính trị. Giáo dục đóng vai trò chính trong quá trình này vì giáo dục mang lại kiến thức để giúp cho việc tham gia của người dân một cách hiệu quả và có thể thực hiện được ngay từ đầu. Dân trí gắn liền với ý thức của nhân dân và phụ thuộc vào chất lượng của giáo dục.
Nếu không thừa nhận sự đa dạng về chính trị và sự đa dạng về nhận thức thì không thể giáo dục tự do, và nếu không giáo dục tự do thì không gian nhận thức của nhân dân sẽ bị hạn chế và điều đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến trình độ dân trí. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ hoá phải được bắt đầu từ chủ trương diệt giặc dốt. Do vậy, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công (năm 1945), chính phủ do Người đứng đầu đã chỉ đạo và có nhiều biện pháp nhằm nâng cao dân trí. Ngay sau khi hơn một tháng đọc Tuyên ngôn Ðộc lập, Người đã nói: “Nay chúng ta giành quyền độc lập.
Một trong những công việc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”[31, tr. Nhờ chủ trương đúng đắn này, chỉ sau thời gian ngắn, dưới chế độ mới, đa số nhân dân đã hiểu rõ quyền lợi và bổn phận của mình mà ra sức học tập. Nhiều người nhờ học tập mà đã tự tay viết lá phiếu bầu những đại biểu của mình vào Quốc hội đầu tiên, góp phần thiết thực vào việc xây dựng một chế độ mới, xây dựng nền dân chủ mới. Như trên đã phân tích, về bản chất, dân chủ liên quan chặt chẽ tới các nguyên tắc quyền con người và không thể thực hiện chức năng nếu không đảm bảo đầy đủ việc tôn trọng và bảo vệ phẩm giá con người.
Muốn vậy, phải có những thiết chế quyền lực hữu hiệu để đảm bảo quyền con người được thực thi trên thực tế. Từ ý nghĩa đó, lý thuyết về nhà nước pháp quyền ra đời và được các quốc gia dần đưa nó trở thành hiện thực. Về mặt lý thuyết, có nhiều quan điểm khác nhau về nhà nước pháp quyền nhưng nhìn chung nó mang các đặc trưng cơ bản như: Thừa nhận và tôn trọng tính tối cao của luật, quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, dùng quyền lực để kiểm tra và giám sát quyền lực; Con người là mục tiêu và giá trị cao nhất; trong quan hệ quốc tế, nhà nước bảo đảm thực hiện một cách tận tâm các cam kết quốc tế. Nhìn lại tiến trình lịch sử nhân loại, toàn bộ tư tưởng, học thuyết và thiết chế nhà nước pháp quyền ra đời và phát triển là do yêu cầu của dân chủ.
Trong mối quan hệ với nhà nước pháp quyền thì dân chủ vừa là mục tiêu vừa là điều kiện của nhà nước pháp quyền. Ngược lại, nhà nước pháp quyền cũng là điều kiện cho việc đảm bảo hệ thống thiết chế dân chủ và phương thức hoạt động của một nhà nước dân chủ. Không phải nhà nước nào cũng là dân chủ, nhưng bất cứ nền dân chủ nào cũng phải được thiết lập qua nhà nước. Nhà nước pháp quyền xác lập những cơ chế, thiết chế thực hiện các quyết định dân chủ dưới hình thức luật, duy trì trật tự và tự do công cộng như là những điều kiện các các biểu hiện của dân chủ.
Nhà nước pháp quyền – quyền lực thuộc về nhân dân, quản lý xã hội và bản thân nó cũng hoạt động trên cơ sở pháp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 luật – đây là hình thức biểu hiện của dân chủ. Dân chủ cần đến tính pháp lý và tính nhân văn của nhà nước pháp quyền. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, không có nhà nước pháp quyền thì không có dân chủ và dân chủ là hạt nhân lý luận của nhà nước pháp quyền [55, tr. Từ những phân tích ở trên, có thể thấy vấn đề đảm bảo quyền con người trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta chính là những cách thức, tiến trình thực hiện dân chủ hoá ở nước ta và đây cũng là những điều kiện trong quan trọng đảm bảo cho một nền dân chủ XHCN tại Việt Nam.
Sự hình thành dân chủ XHCN là bước phát triển mới về dân chủ Kế thừa tư tưởng dân chủ của nhân loại, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân; Dân chủ là một hình thức tổ chức của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, một hình thái nhà nước; Với tính cách là một chế độ chính trị, một hình thái nhà nước, dân chủ luôn có sự thống nhất biện chứng của hai mặt: đảm bảo quyền làm chủ cho giai cấp mà nó đại diện và thực hiện chuyên chính với các lực lượng chống đối.